Phân Tích Thành Phần Hóa Học và Tính Chất Chất Tạo Bọt Trong Dung Dịch Chữa Cháy 3%

Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích phân tích thành phần hóa học tính chất của hệ chất tạo bọt trong dung dịch chữa cháy 3 có độ nở thấp, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Hóa phân tích

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ hóa học

2020

63
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Cháy và các phương pháp chữa cháy

1.1.1. Nguyên nhân hình thành đám cháy

1.1.2. Phân loại đám cháy

1.1.3. Các phương pháp chữa cháy

1.2. Công nghệ chữa cháy sử dụng chất tạo bọt

1.2.1. Giới thiệu chung

1.2.2. Phân loại chất tạo bọt

1.2.3. Thành phần chất tạo bọt

1.2.4. Các tính chất của hệ chất tạo bọt trong dung dịch chữa cháy có độ nở thấp

1.2.5. Phương pháp nghiên cứu tính chất chất tạo bọt

1.2.5.1. Phương pháp phân tích xác định độ nở và thời gian bán hủy
1.2.5.2. Phương pháp phân tích xác định sức căng bề mặt, hệ số lan truyền
1.2.5.3. Phương pháp phân tích khả năng tương hợp và độ bền nhiệt
1.2.5.4. Phương pháp phân tích xác định thành phần và nồng độ của chất tạo bọt

1.2.6. Các nội dung nghiên cứu trong luận văn

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Hóa chất và thiết bị

2.2. Nội dung thực nghiệm

2.3. Phân tích các thông số kỹ thuật của chất tạo bọt

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1. Phân tích xác định các thông số kỹ thuật của chất hoạt động bề mặt

3.1.1. Hệ một chất HĐBM

3.1.2. Hệ nhiều chất HĐBM

3.2. Tối ưu hóa phối trộn các chất HĐBM

3.3. Phân tích xác định các thông số kỹ thuật chất trợ HĐBM và các phụ gia

3.3.1. Độ nở, thời gian bán hủy chất trợ HĐBM

3.3.2. Độ nở, thời gian bán hủy các chất phụ gia

3.4. Phân tích hệ số lan truyền

3.5. Phân tích độ bền của hỗn hợp chất HĐBM với chất trợ HĐBM và các chất phụ gia

3.6. Xây dựng và tối ưu hóa quy trình kỹ thuật chế tạo hệ dung dịch chữa cháy tạo bọt tạo màng nước 3 %

3.6.1. Phân tích thời gian khuấy và tốc độ khuấy đối với chất tạo bọt tạo màng nước

3.6.2. Lập công thức phân tích chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước 3 %

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Dung Dịch Chữa Cháy 3 Hiện Nay

Từ xa xưa, nước đã được sử dụng để dập tắt các đám cháy. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các vật liệu cháy ngày càng đa dạng, đặc biệt là các chất lỏng dễ cháy như xăng, dầu. Nước không còn là vật liệu dập lửa hiệu quả trong mọi trường hợp. Để kiểm soát đám cháy, việc trang bị đầy đủ và phù hợp chất tạo bọt chữa cháy là vô cùng quan trọng. Ngày nay, bọt chữa cháy đã phát triển thành nhiều loại để đáp ứng cho từng mục đích chữa cháy cụ thể. Chất tạo bọt chữa cháy được ứng dụng để dập tắt đám cháy và ngăn cản sự cháy lại trong các vụ cháy chất rắn, chất lỏng dễ cháy, hơi khí nén, cháy trạm biến áp, nhà xưởng, tàu thuyền chở nhiên liệu. Với tính chất dập cháy nhanh, phổ biến nên bọt chữa cháy hiện nay là loại chất chữa cháy được sử dụng rộng rãi nhất trên thị trường.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Của Chất Tạo Bọt Chữa Cháy

Chất tạo bọt chữa cháy được các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu và được ứng dụng từ năm 1902. Các chất tạo bọt trong thời kỳ đầu tiên được trộn với bột vô cơ trong nước có chứa xà phòng tự nhiên để sản xuất CO2. Một số bọt khác được chế tạo từ vật liệu protein thủy phân, keratin từ các sản phẩm phụ trong các lò mổ, xưởng làm da, chúng tan trong nước nhờ các phương pháp khác nhau nhưng mục đích đều phá hủy liên kết disulfit. Đối với một số bọt, cô đặc bằng cách trộn protein thủy phân với chất ổn định, chất bảo quản và các muối kim loại như các tác nhân tạo phức. Những chất tạo bọt là protein tự nhiên; protein động vật hoặc thực vật ngày nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi.

1.2. Phân Loại Các Loại Dung Dịch Chữa Cháy 3 Phổ Biến

Các loại chất tạo bọt được sử dụng phổ biến hiện nay là chất tạo bọt chữa cháy sử dụng nước biển, chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước sử dụng nước ngọt, nước biển và chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước bền rượu. Trên thế giới, các sản phẩm này đã được tập trung nghiên cứu từ rất lâu, trong đó nổi trội là các nước phát triển có nền khoa học công nghệ cao như: Anh, Pháp, Mỹ… Hiện nay, có thể nói các sản phẩm này đã được nghiên cứu đến mức tối ưu về hiệu quả dập cháy và rất đa dạng về chủng loại sản phẩm theo tính chất của đám cháy và yêu cầu của người sử dụng.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Thành Phần Hóa Học Dung Dịch Chữa Cháy

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm bọt chữa cháy còn hạn chế, phần lớn chúng ta vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Đặc biệt là dòng sản phẩm bọt chữa cháy tạo màng nước. Do đó, để việc nghiên cứu, chế tạo sản phẩm bọt chữa cháy có khả năng ứng dụng cao, rộng rãi là vấn đề thiết yếu. Việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp để xây dựng hệ chất HĐBM bền nhiệt và có độ đậm đặc cao hiện là một yêu cầu cấp thiết của việc sản xuất chất tạo bọt chữa cháy ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, giá thành của một số loại chất tạo bọt chữa cháy hiện nay ngày càng cao, trong khi đó nhu cầu sử dụng trong nước khá lớn.

2.1. Sự Phụ Thuộc Vào Nhập Khẩu Foam Chữa Cháy 3

Các sản phẩm bọt chữa cháy của nước ngoài thông thường được sản xuất và cung cấp bởi các công ty lớn và các tập đoàn đa quốc gia. Mỗi một nhà cung cấp khác nhau đều có một quy trình công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất đồng bộ tương ứng riêng của mình. Có thể nói đây là bí quyết riêng nên không được phổ biến rộng rãi, do vậy không thể biết được cụ thể quy trình công nghệ và cách chế tạo sản xuất sản phẩm. Bên cạnh đó, ở Việt Nam việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm bọt chữa cháy còn hạn chế, phần lớn chúng ta vẫn phải nhập khẩu của nước ngoài các sản phẩm phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy. Đặc biệt là dòng sản phẩm bọt chữa cháy tạo màng nước.

2.2. Yêu Cầu Về Độ Bền Bọt Foam Chữa Cháy và Tính Ổn Định Nhiệt

Việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp để xây dựng hệ chất HĐBM bền nhiệt và có độ đậm đặc cao hiện là một yêu cầu cấp thiết của việc sản xuất chất tạo bọt chữa cháy ở nước ta hiện nay. Ngoài ra, giá thành của một số loại chất tạo bọt chữa cháy hiện nay ngày càng cao, trong khi đó nhu cầu sử dụng trong nước khá lớn . Vì vậy, phân tích xây dựng hệ chất HĐBM bền nhiệt, ứng dụng trong sản xuất chất tạo bọt thành công sẽ là tiền đề thuận lợi để Việt Nam chủ động sản xuất chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới phù hợp với xu thế chung của thế giới, tự sản xuất trong nước được một số vật liệu, sản phẩm chữa cháy mới với tính năng ưu việt trong những năm sắp tới.

III. Phương Pháp Phân Tích Tính Chất Chất Tạo Bọt Hiệu Quả

Để đánh giá tính chất chất tạo bọt trong dung dịch chữa cháy 3%, cần áp dụng các phương pháp phân tích phù hợp. Các phương pháp này bao gồm xác định độ nở, thời gian bán hủy, sức căng bề mặt, hệ số lan truyền, khả năng tương hợp và độ bền nhiệt. Việc phân tích thành phần và nồng độ của chất tạo bọt cũng rất quan trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của dung dịch chữa cháy.

3.1. Xác Định Độ Nở Foam Chữa Cháy và Thời Gian Bán Hủy

Phương pháp phân tích xác định độ nở và thời gian bán hủy là một trong những phương pháp quan trọng để đánh giá tính chất chất tạo bọt. Độ nở thể hiện khả năng tạo bọt của dung dịch chữa cháy, trong khi thời gian bán hủy cho biết độ bền của bọt theo thời gian. Các thông số này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng dập tắt đám cháy và ngăn chặn sự cháy lại.

3.2. Phân Tích Sức Căng Bề Mặt và Hệ Số Lan Truyền

Sức căng bề mặt và hệ số lan truyền là hai tính chất quan trọng khác của dung dịch chữa cháy. Sức căng bề mặt ảnh hưởng đến khả năng tạo màng bọt trên bề mặt nhiên liệu, trong khi hệ số lan truyền cho biết khả năng lan rộng của bọt trên bề mặt đám cháy. Việc phân tích hai thông số này giúp đánh giá khả năng bao phủ và ngăn chặn sự tiếp xúc của nhiên liệu với oxy.

3.3. Đánh Giá Khả Năng Tương Hợp và Độ Bền Bọt Foam Chữa Cháy

Khả năng tương hợp và độ bền nhiệt là những yếu tố quan trọng để đảm bảo dung dịch chữa cháy hoạt động hiệu quả trong các điều kiện khác nhau. Khả năng tương hợp cho biết khả năng kết hợp của các thành phần trong dung dịch, trong khi độ bền nhiệt cho biết khả năng chịu nhiệt của dung dịch trong quá trình sử dụng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Dung Dịch Chữa Cháy 3 Tạo Màng Nước

Nghiên cứu và phát triển dung dịch chữa cháy 3% tạo màng nước có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháy. Sản phẩm này có khả năng dập tắt đám cháy nhanh chóng, ngăn chặn sự cháy lại và bảo vệ môi trường. Việc ứng dụng dung dịch chữa cháy này trong các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và dân dụng sẽ góp phần giảm thiểu thiệt hại do cháy nổ gây ra.

4.1. Ứng Dụng Trong Công Nghiệp và Giao Thông Vận Tải

Dung dịch chữa cháy 3% tạo màng nước có thể được sử dụng trong các nhà máy, xí nghiệp, kho bãi và các phương tiện giao thông vận tải để phòng ngừa và dập tắt đám cháy. Sản phẩm này đặc biệt hiệu quả trong việc dập tắt các đám cháy xăng dầu và các chất lỏng dễ cháy khác.

4.2. Sử Dụng Trong Dân Dụng và Các Công Trình Xây Dựng

Dung dịch chữa cháy 3% tạo màng nước cũng có thể được sử dụng trong các hộ gia đình, văn phòng, trường học và các công trình xây dựng để phòng ngừa và dập tắt đám cháy. Sản phẩm này an toàn, dễ sử dụng và có thể giúp giảm thiểu thiệt hại do cháy nổ gây ra.

V. Tối Ưu Hóa Quy Trình Chế Tạo Dung Dịch Chữa Cháy 3

Việc xây dựng và tối ưu hóa quy trình kỹ thuật chế tạo hệ dung dịch chữa cháy tạo bọt tạo màng nước 3 % là rất quan trọng. Cần phân tích thời gian khuấy và tốc độ khuấy đối với chất tạo bọt tạo màng nước. Lập công thức phân tích chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước 3 % để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của sản phẩm.

5.1. Ảnh Hưởng Của Thời Gian và Tốc Độ Khuấy

Phân tích thời gian khuấy và tốc độ khuấy đối với chất tạo bọt tạo màng nước là cần thiết để đảm bảo quá trình tạo bọt diễn ra hiệu quả. Thời gian và tốc độ khuấy phù hợp sẽ giúp các thành phần trong dung dịch hòa trộn đều và tạo ra bọt có độ nở và độ bền tốt.

5.2. Xây Dựng Công Thức Phân Tích Chất Tạo Bọt Chữa Cháy

Lập công thức phân tích chất tạo bọt chữa cháy tạo màng nước 3 % là quan trọng để kiểm tra chất lượng và đảm bảo sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Công thức phân tích cần bao gồm các thông số như độ nở, thời gian bán hủy, sức căng bề mặt và hệ số lan truyền.

VI. Kết Luận và Hướng Phát Triển Dung Dịch Chữa Cháy 3

Nghiên cứu thành phần hóa họctính chất chất tạo bọt trong dung dịch chữa cháy 3% là rất quan trọng và cần thiết, tiến tới việc sản xuất tại Việt Nam các vật liệu dập cháy hiệu quả này. Việc chủ động sản xuất dung dịch chữa cháy sẽ giúp giảm chi phí, nâng cao khả năng ứng phó với các tình huống cháy nổ và bảo vệ an toàn cho cộng đồng.

6.1. Tiềm Năng Phát Triển Sản Xuất Trong Nước

Phân tích xây dựng hệ chất HĐBM bền nhiệt, ứng dụng trong sản xuất chất tạo bọt thành công sẽ là tiền đề thuận lợi để Việt Nam chủ động sản xuất chất tạo bọt chữa cháy thế hệ mới phù hợp với xu thế chung của thế giới, tự sản xuất trong nước được một số vật liệu, sản phẩm chữa cháy mới với tính năng ưu việt trong những năm sắp tới.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Foam Chữa Cháy 3

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tìm kiếm các nguồn nguyên liệu thay thế, giảm giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả dập cháy. Đồng thời, cần nghiên cứu về tác động môi trườngan toàn sử dụng của dung dịch chữa cháy để đảm bảo sự phát triển bền vững.

08/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Cháy và các phương pháp chữa cháy 1. Nguyên nhân hình thành đám cháy Quá trình cháy là những quá trình lý – hóa học phức tạp của phản ứng giữa chất cháy và chất oxi hóa tạo thành sản phẩm cháy. Tương tự như đối với chất cháy khác: gỗ, cao su, vải… quá trình cháy đối với các chất cháy là sản phẩm của dầu mỏ có bản chất là những phản ứng hóa học có tỏa nhiệt và phát sáng.

Để cho cho đám cháy có thể hình thành, nhất thiết phải hội tụ đủ ba yếu tố, đó là: chất cháy, chất oxi hóa và nguồn nhiệt. Trong đó chất cháy ở đây là nhiên liệu: xăng dầu, dung môi hữu cơ. và chất oxi hóa là oxi và nguồn nhiệt [1]. Khi hội tụ đủ ba yếu tố cần thiết nói trên, sự cháy sẽ xảy ra khi ba yếu tố được tiếp xúc với nhau, với điều kiện: - Nồng độ của chất cháy và chất oxi hóa phải ở trong phạm vi nồng độ bốc cháy - Nguồn nhiệt phải đáp ứng được yêu cầu nung nóng được hỗn hợp chất cháy và chất oxi hóa – hỗn hợp cháy tới một nhiệt độ nhất định là nhiệt độ tự bốc cháy của hỗn hợp.

Để dễ hình dung, sự cháy có thể được mô tả trực quan bằng mô hình dưới đây: Hình 1. Mô hình cháy kiểu tam giác Từ mô hình có thể nhận thấy, khi nhiên liệu cháy được cung cấp một nguồn nhiệt nhất định thì nhiên liệu sẽ được nung nóng và bốc hơi, hơi nhiên liệu kết hợp với O2 có trong không khí với vai trò là chất oxi hóa sẽ tạo thành hỗn hợp chất cháy, đám cháy sẽ xảy ra khi hỗn hợp được cấp nhiệt đến nhiệt độ cháy. Quá trình cháy là phản 3 c ứng oxi hóa giữa chất cháy và O2 sẽ tạo ra nhiệt lượng lớn tiếp tục cấp nhiệt cho quá trình bốc cháy của nhiên liệu cho đến khi hết nhiên liệu. Phân loại đám cháy Ở Châu Âu và Mỹ việc phân định các đám cháy được quy định trong các tiêu chuẩn về sản phẩm bọt chữa cháy BS EN 2 : 1992; NFPA 11, EN 13565-2 như sau [8]: Loại A: Bao gồm các đám cháy vật liệu rắn, các chất hữu cơ tự nhiên, khi cháy thường phát sáng và tạo ra than hồng.

Loại B: Bao gồm đám cháy chất lỏng hay chất rắn hóa lỏng Loại C: Đám cháy khí đốt Loại D: Đám cháy kim loại Cháy điện không có trong hệ thống phân loại này nhưng có trong hệ thống phân loại của Mỹ. Những nguyên tắc chung của việc chữa cháy, đặc biệt liên quan đến chữa cháy bằng bọt, đã được xem xét cho từng loại đám cháy. Đám cháy loại A Đám cháy loại A là những đám cháy có liên quan đến các chất rắn thông thường chứa cacbon hữu cơ như gỗ, vải, giấy, cao su, nhựa. Với các đám cháy như vậy chỉ cần sử dụng nước mà không cần sử dụng thêm các vật liệu khác để dập cháy.

Việc sử dụng nước trong các trường hợp này chủ yếu để làm lạnh, giảm nhiệt các chất rắn dễ cháy nhờ sự bay hơi. Hơi nước sinh ra ngăn cản sự tiếp xúc của vật liệu cháy với oxy ngoài môi trường làm cho đám cháy nhanh được dập tắt. Nước tinh khiết có sức căng bề mặt cao do đó khả năng thâm nhập vào một số vật liệu rắn xốp giảm và làm ẩm chậm vật liệu dễ cháy đặc biệt là các vật liệu có bề mặt kỵ nước. Đám cháy loại B Đám cháy loại B là những đám cháy có liên quan đến chất lỏng dễ cháy, chất rắn hóa lỏng, dầu, mỡ, hắc ín, dầu sơn nhũ và sơn mài.

Sự cháy của chúng xuất hiện hoàn toàn ở trạng thái hơi, trên bề mặt của chất lỏng. Dựa theo mục đích chữa cháy, chất lỏng loại B có thể chia thành 3 loại: - Chất lỏng loại B không tan trong nước điểm bốc cháy cao - Chất lỏng loại B không tan trong nước điểm bốc cháy thấp - Chất lỏng loại B tan trong nước Một vài đám cháy hydrocacbon lỏng điểm bốc cháy cao chẳng hạn như dầu, trong điều kiện kiểm soát tốt có thể dập tắt được chỉ bằng hiệu quả làm mát của nước. 4 c Tuy nhiên, hầu hết những vụ cháy hydrocacbon điểm bốc cháy thấp chẳng hạn như xăng, dầu không thể dập tắt đám cháy nếu chỉ dùng nước, nguyên nhân là do nước thường có khối lượng riêng nặng hơn nhiều so với hydrocacbon lỏng. Do đó, khi dùng nước để chữa cháy, nó ngay lập tức chìm xuống dưới bề mặt nhiên liệu mà không có bất kỳ tác dụng dập cháy nào.

Trong thực tế, việc sử dụng nước để đối phó với các đám cháy này còn có thể làm bề mặt đám cháy tăng và lan rộng đến khu vực khác. Đám cháy loại C Đám cháy loại C là những đám cháy bao gồm khí và khí hóa lỏng. Trong những năm gần đây các loại khí hóa lỏng dễ cháy trở thành một nguồn nhiên liệu quan trọng trong thương mại và công nghiệp. Điểm sôi của các loại khí hóa lỏng khá thấp, do đó trong trường hợp bị đổ thì chúng có thể bị bay hơi nhanh chóng.

Do lượng hơi tạo thành lớn hơn, tính nổi thấp hơn của nguồn hơi lạnh, cho nên sự phát tán của chúng khó giải quyết hơn việc tràn chất lỏng dễ cháy như xăng. Trong điều kiện không có gió, và nơi có mặt đất dốc và có rãnh, nguồn hơi của có thể di chuyển một quãng đường dài. Nguồn hơi khí hóa lỏng được biết đến có thể di chuyển 1500 m từ một hồ bị chảy tràn chất lỏng trong khi duy trì nồng độ vượt quá giới hạn khả năng bốc cháy. Đám cháy loại D Đám cháy loại D là những đám cháy bao gồm những kim loại dễ cháy như Mg, Ti, Zn, Na, K và Li.

Bọt chữa cháy không nên sử dụng với những kim loại phản ứng với nước như Na, K cũng không dùng với những hóa chất khác có phản ứng với nước như Triethyl alumane và phosphorous pentoxide. Những đám cháy kim loại khác được xử lý như đám cháy loại A, nhưng nhìn chung việc sử dụng những phương tiện khác phù hợp hơn bọt hoặc nước. Đám cháy điện Bọt chữa cháy không thích hợp để sử dụng cho đám cháy trên các thiết bị điện được cấp điện. Có thể sử dụng những phương tiện chữa cháy khác.

Đám cháy trên các thiết bị điện nhưng không có dòng điện chạy qua thì được xử lý riêng như đám cháy loại A hoặc B. Các phương pháp chữa cháy Trước khi có sự xuất hiện của bọt chữa cháy thì nước đóng vai trò là một trong những vật liệu chữa cháy thông dụng và phổ biến. Nước mang lại hiệu quả dập cháy tốt khi áp dụng cho các đám cháy thuộc loại A – là đám cháy liên quan đến vật liệu rắn 5 c dễ cháy: như gỗ, cao su, bông sợi… Với các đám cháy này chỉ cần sử dụng nước mà không cần thêm vật liệu khác để dập cháy. Việc sử dụng nước trong các trường hợp này chủ yếu để làm lạnh, giảm nhiệt các chất rắn dễ cháy nhờ sự bay hơi.

Hơi nước sinh ra ngăn cản sự tiếp xúc của vật liệu cháy với oxy ngoài môi trường làm cho đám cháy nhanh được dập tắt. Nước có sức căng bề mặt cao do đó khả năng thâm nhập vào một số vật liệu rắn xốp giảm và làm ẩm chậm vật liệu dễ cháy đặc biệt là các vật liệu có bề mặt kỵ nước. Tuy nhiên, khi áp dụng cho các đám cháy khác, đặc biệt là các đám cháy xăng dầu và các sản phẩm từ quá trình cracking dầu mỏ thì nước hoàn toàn không có khả năng dập cháy được, thâm chí còn làm tăng thêm cường độ, sự lan tỏa của đám cháy. Cụ thể, để dập tắt một đám cháy loại B (chất lỏng dễ cháy, chất rắn hóa lỏng, dầu, mỡ, hắc ín.) thì cần thiết phải có một vật liệu chữa cháy có khả năng chịu nhiệt, hình thành lớp chất chữa cháy bao phủ lên trên bề mặt nhiên liệu.

Tuy nhiên, hầu hết các nhiên liệu hydrocacbon lỏng đều có khối lượng riêng nhỏ hơn 1,0, do đó khi sử dụng nước để dập cháy, nó gần như không có tác dụng giảm nhiệt của đám cháy và cường độ của ngọn lửa bởi vì nước có khối lượng riêng xấp xỉ 1,0 nên nó bị chìm xuống bên dưới bề mặt nhiên liệu này, nguy hiểm hơn là nó có khả năng làm cho nhiên liệu lan nhanh chóng. Do đó, đám cháy phát triển nhanh và rộng hơn. Bột khô như KHCO3 và ure thường được sử dụng để dập tắt các đám cháy loại B, tuy nhiên các sản phẩm này lại không thể bảo vệ, ngăn cản khả năng cháy lại sau khi đám cháy được dập tắt. Ngoài ra, bột cũng không có khả năng lan truyền nhanh trên bề mặt nhiên liệu mà phải dùng tay rắc trực tiếp đến tất cả khu vực cháy, gây ra hạn chế đối với các đám cháy lớn.

Hơn nữa, việc sử dụng bột khô trong các đám cháy đòi hỏi các nhân viên cứu hỏa phải tiếp cận gần với các đám cháy, điều này gây ra sự mất an toàn và nguy hiểm. Do vậy, cần có sản phẩm thay thế trong công tác chữa cháy các đám cháy này [2]. Chất tạo bọt chữa cháy được các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu và được ứng dụng từ năm 1902. Các chất tạo bọt trong thời kỳ đầu tiên được trộn với bột vô cơ trong nước có chứa xà phòng tự nhiên để sản xuất CO2 [3].

Một số bọt khác được chế tạo từ vật liệu protein thủy phân, keratin từ các sản phẩm phụ trong các lò mổ, xưởng làm da, chúng tan trong nước nhờ các phương pháp khác nhau nhưng mục đích đều phá hủy liên kết disulfit [4]. Đối với một số bọt, cô đặc bằng cách trộn protein thủy phân với chất ổn định, chất bảo quản và các muối kim loại như các tác 6 c nhân tạo phức [24, 25]. Những chất tạo bọt là protein tự nhiên; protein động vật hoặc thực vật ngày nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi. Các chất bọt chữa cháy protein được cho thêm chất hoạt động bề mặt được flo hóa tạo thành chất tạo bọt chữa cháy floprotein [5].

Không giống như các chất chữa cháy thông thường khác, chất tạo bọt chữa cháy đóng vai trò làm mát bề mặt nhiên liệu cháy, hạn chế nguồn cấp oxi cho đám cháy thông qua sự bốc hơi của nước do nhiệt độ cao của đám cháy. Chất tạo bọt chữa cháy được sử dụng cho các đám cháy là các chất rắn hoặc các vật liệu lỏng dễ cháy để dập tắt đám cháy đang diễn ra và ngăn chặn sự cháy lại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ