CHƯƠNG 1. Tổng quan về thực vật 1. Thực vật họ Thạch tùng (Lycopodiaceae) Họ Thạch tùng có tên khoa học là Lycopodiceace, là họ thực vật thuộc lớp Lycopodiopsida trong bộ Lycopodiales. Tên khoa học của họ này có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp và có nghĩa là “Chân chó sói” (gồm Lykos nghĩa là “chó sói” và podion nghĩa là “chân”).
Đây là họ thực vật có mạch với lịch sử lâu đời khoảng 380 triệu năm trước (vào đầu kỷ Devon), bao gồm các loại rêu câu (clubmosses) và rêu cứng (firmosses) [2]. Hiện nay họ Thạch tùng đã được phân loại thành 3 phân họ là Lycopodielloideae, Lycopodioideae và Huperzioideae [3]. Ba phân họ này gồm có 16 chi đã được chấp nhận và bao gồm ít nhất 388 loài đã được phát hiện và phân loại [4]. Họ Thạch tùng thường cao từ 5-20 cm, mọc lan trên mặt đất và thường phân nhánh.
Đây không phải họ thực vật sinh tinh nên không sinh sản bằng hạt mà chúng sinh sản qua các bào tử. Các bào tử khô của họ này hầu hết đều có dầu và dễ cháy nên trước kia được thu hái và sử dụng trong một số ngành sản xuất. Các bào tử này có cung một kích thước (đẳng bào tử), được sinh ra trên một cấu trúc riêng biệt của chồi gọi là strobilus. Đặc điểm chung thứ hai của họ này là toàn thân được bao phủ bởi các vi lá theo kiểu tuyến tính, sắp xếp theo dạng vảy hoặc bám sát vào thân với các lá mọc đối hay theo hình xoắn ốc [2].
Thể giao tử (gametophytes) của hầu hết các loài họ này thuộc loại thể giao tử không quang hợp và dị dưỡng myco (myco-heterotrophic), tuy nhiên ngoại lệ đối với phân họ Lycopodielloideae và một số loài trong phân họ Huperzioideae có thể giao tử có khả năng quang hợp với phần trên giao tử có diệp lục nhưng phần dưới không có. Các cây trong họ Lycopodiaceae sống trên cạn hoặc biểu sinh, phân bố trên toàn cầu chủ yếu ở khu vực đồi núi vùng nhiệt đới và trừ các khu vực khô cằn hoặc các vùng lạnh như sa mạc và các vùng cực [5]. Thực vật chi Lycopodium 1. Đặc điểm thực vật và phân bố địa lý của chi Lycopodium Chi Lycopodium là chi thực vật có mạch nhưng không có hoa, sống trên cạn hoặc biểu sinh.
Thân có phân nhánh rộng, thường phân nhánh dọc mặt đất, mọc thẳng, nghiêng hay thân leo [6]. Lá nhỏ, dạng hình kim hoặc vảy, thường được sắp xếp theo dạng xoắn ốc và phủ kín thân với cành. Các lá chứa một sợi mạch đơn và không phân nhánh. Các cây chi Lycopodium sinh sản bằng bào tử, các túi bào tử được hình thành ở bề mặt trên của các lá bào tử là các lá được phát triển riêng biệt nằm ở phần cuối của nhánh cây mọc thẳng đứng, các túi này thường dưới dạng chồi hình nón và chứa vô số các bào tử nhỏ hình thận [7].
Là một trong 16 chi của họ Thạch tùng, chi Lycopodium bao gồm khoảng 15 loài đã được biết đến và phân loại như trong bảng sau: Bảng 1. Các loài thuộc chi Lycopodium , tên gọi và phân bố của chúng STT Tên Latin Tên địa phương Phân bố TLTK Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm), Ấn Độ, Gaoshanbianzhi- Lycopodium Nhật Bản, Hàn Quốc, 1 shisong, Alpine [8] alpinum L. Mông Cổ, Nga (Siberia), clubmoss Sri Lanka; Châu Âu, Bắc Mỹ Trung Quốc (Trùng Khánh, Cam Túc, Hắc Long Giang, Hồ Bắc, Cát Lâm, Liêu Ninh, Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Tỉnh Đài Loan), Bhutan, Đông Bắc Duosuishisong, Ấn Độ (Assam), Nhật Lycopodium 2 Interrupted clubmoss, Bản, Hàn Quốc, Nepal, [8] annotinum L. Stiff clubmoss Nga, hầu hết Châu Âu, Bắc Mỹ (Greenland, St.
Pierre & Miquelon, tất cả 10 tỉnh và cả 3 vùng lãnh thổ của Canada, Alaska, và vùng núi tiếp giáp Hoa Kỳ) 2 Ấn Độ và Ấn Độ Dương, Trung Quốc (Trùng Khánh, Phúc Kiến, Quảng Chuisuishisong, Lycopodium Đông, Quảng Tây, Quý 3 Staghorn clubmoss, [9] cernuum L. Châu, Hải Nam, Hồ Wãwaeiole, Rat’s foot Nam), các đảo Thái Bình Dương (Hawaii), Trung và Nam Mỹ Dongbeishisong, Trung Quốc (Hắc Long Belly powder, Giang, Cát Lâm, Liêu [10], Nagbeli; Luanha, Ninh, tỉnh Nei Mongol), [11]. Selago; Pillijan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nepal, Ấn [12], Ground pine, Độ (cộng đồng Lohit của [13], Lycopodium 4 Common club moss, Arunachal Pradesh), Bắc clavatum L. Running-evergreen, Tây Trang, Chiết Giang, [21] Trailing-evergreen Vân Nam), Bắc Mỹ (Alaska) Trung Quốc (trừ phía bắc và đông bắc Trung Quốc), Lycopodium Shenjincao, Nepal, Bhutan, 6 japonicum [22] Naagabelee Campuchia, Ấn Độ, Nhật Thunb Bản, Lào, Myanmar, Việt Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Đài Loan, các tỉnh Tây Tạng, Lycopodium Aixiaobianzhishisong, nam Vân Nam), Assam, [23] 7 multispicatum Dishuazi đông Himalaya, Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Benguet, Bắc Luzon, Núi Santo Tomas 3 Trung Quốc (khu vực núi Yubaishisong, Rare phía đông bắc và Trung Lycopodium clubmoss, Ground và thượng lưu sông [24], 8 obscurum L.
pine, Prince’s pine, Dương Tử), Nhật Bản, [25] Princess pine Hàn Quốc, Nga, Bắc Mỹ (Wisconsin) Trung Quốc (Đài Loan, Lycopodium [26], 9 Chuizhishisong Quảng Đông, Quảng Tây, phlegmaria L. Mary’s Furze Aleutian, Greenland, Iceland Trung Quốc (Vân Nam, Lycopodium Đài Loan và nam Tây 12 squarrosum Shanyeshisong [31] Tạng), Đông Bắc Ấn Độ G. Forst (bang Manipur) Trung Quốc (tây Hồ Bắc, tây Tứ Xuyên, Đài Loan, Lycopodium 13 Yushangshisong Tây Tạng, tây bắc Vân [8] veitchii Christ Nam), Bhutan, Ấn Độ, Myanmar, Nepal Lycopodium Trung Quốc (tây nam, [32], Shezushisong, 14 serratum trung nam, đông và bắc [33], Qiancengta Thumb Trung Quốc) [34] Lycopodium thyoides Nam Mỹ (Brasil, 15 Humb. ex Willd 4 Theo cuốn “Danh mục các loài thực vật của Việt Nam” thì nước ta có 3 loài đã được phát hiện là: Thông đất lá phi lao (Lycopodium casuarinoides Spring), Thông đá (Lycopodium clavatum L.) và Thông đất dẹt (Lycopodium complatanum L.
Cây Thông đất lá phi lao phân bố khá rộng, chủ yếu vùng núi thấp của Lào Cai (Sa Pa), Vĩnh Phúc (núi Tam Đảo), Hà Tĩnh (Hương Sơn) và Lâm Đồng. Lao Cai, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Kon Tum, Lâm Đồng. Gặp ở khắp các vùng núi thấp và trung bình, từ Lào Cai tới Lâm Đồng. Cây Thông đá mọc tự nhiên thành từng đám ngoài cửa rừng rậm thường xanh, trong các trảng cây bụi thưa, hay các trảng cỏ thứ sinh, ở độ cao 900 - 2000 m.
Còn cây Thông đất dẹt mọc tự nhiên, bò dài đến vài mét, sau đó trườn lên các bụi cây, tạo thành đám ở trảng cây bụi hay trảng cỏ thứ sinh, ven rừng rậm thường xanh, trong đó có rừng mây mù, ở độ cao 900-2200 m [35]. Cây Thông đất lá phi lao (trái) và cây thông đất dẹt (phải) 1. Công dụng của các cây chi Lycopodium Trong y học cổ truyền dân tộc của các nước châu Âu, châu Á, Bắc và Nam Mỹ, các cây thuộc chi Lycopodium được dùng để trị nhiều loại bệnh khác nhau như: bệnh hệ thần kinh trung ương, viêm gan, viêm khớp, thấp khớp, sưng cơ, sốt và các bệnh da liễu,… Trong y học cổ truyền châu Âu, các loại trà bổ dưỡng có chứa dược liệu chi Lycopodium được dùng để chữa bệnh viêm gan, chảy máu cam, kích thích đường ruột và rối loạn chức năng thận. Như trà pha từ L.
và cỏ trường kỷ (Agropyron repén L.) chữa kích ứng da và mụn trứng cá. Trong báo cáo của Pliny the Elder, các viện sĩ của Gaul đã cho rằng khói của L. cực kỳ tốt cho các bệnh về mắt [17]. cũng được dùng để làm thuốc chữa các bệnh về bàng quang và giống cây tương tự L.
được 5 dùng để gây nôn và thông kinh mạch. cũng được coi là chứa chất độc và được dùng để phá thai trong nhiều thế kỷ [30]. Ở châu Mỹ, các bộ lạc bản địa điều trị các vết thương bằng cách bôi trực tiếp bào tử của L. vào vết thương hở.
Một số bộ lạc như Blackfoot dùng L. để điều trị bệnh phổi; vài bộ lạc khác như Iroquos sử dụng cây này như một loại thuốc giúp tăng khả năng thụ thai cho phụ nữ [17]. Ở vùng Upper Tanana (Bang Alaska -Mỹ), người da đỏ thường dùng toàn bộ cây L. làm thuốc đắp lên đầu chữa đau đầu.
Tại Argentina có loại thuốc tiêu độc, long đờm và lợi tiểu làm từ lá và thân của L. Việc dùng các bộ phần phần trên của cây L. saururus như một loại thuốc kích thích tình dục và cải thiện trí nhớ cũng phổ biến trong nhiều bộ lạc bản địa. Nước sắc từ toàn cây L.ex Willd được tộc Quechua ở Ecuador dùng trong trị chứng rối loạn sinh sản cũng như làm thuốc bổ thần kinh trung ương ở Brazil [8].
Dịch truyền của cây L. được người Ấn Độ và các dân đảo trong Ấn Độ Dương dùng để chữa bệnh còi xương cho trẻ em và bệnh nhiễm trùng đường ruột [9]. Cũng tại đây, bột Luanha làm từ chồi non của cây L. trộn với bột hạt của cây Sesamum indicum Linn.
dùng để xoa bóp cơ thể giúp giảm đau cơ và mệt mỏi [15]. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, ở vùng Anatolia người ta còn dùng bột L. để chống kích ứng da trẻ em do tã lót với tên thường gọi là “bột bụng”; các bào tử của loài này được nghiên cứu cho thấy có thể giúp bảo vệ độ mềm mại của da [13]. Người Nepal cũng sử dụng bột L.
để chữa bỏng và nhức đầu. Ở Bangladesh, các bộ tộc dùng L. để trị sỏi thận, nhiễm trùng đường tiết niệu, tiêu hóa và cương cứng cơ bắp ở người già [12]. Với nền y học cổ truyền lâu đời và phong phú, Trung Quốc cũng sử dụng nhiều loài Lycopodium làm dược liệu.
Có thể kể đến như các cây được gọi chung là Shi Song bao gồm L. được dùng để trị nhiều loại bệnh khác nhau như đau khớp, tê thấp, co giật, ứ máu, đau cơ, các bênh tiêu hóa, rối loạn nhận thức và các bệnh viêm nhiễm [36]. Thời nhà Đường, dược điển cổ do y giả Cangqi Chen viết năm 739 đã sử dụng L. làm thuốc chữa thấp 6 khớp, cảm lạnh, giúp thư giãn gân cốt và thúc đẩy lưu thông máu.
Các dược điển sau này của Shizhen Li năm 1578 (thời nhà Minh) và của Qijun Wu năm 1848 (thời nhà Thanh) đã gọi L. với tên khác là “Qian Ceng Ta”. Cùng với sự bổ sung sau này tổng hợp trong Đại từ điển Y học Trung Quốc, “Qian Ceng Ta” dạng tươi toàn thân được trộn với ngũ cốc và đường nâu, nghiền nhỏ và đun nóng sẽ được cao thoa ngoài để trị các vết bầm tím, bong gân, sưng tấy và đau [37]. Một giống khác cũng hay được đề cập là L.
hay Lycopodii Herba có khả năng xua gió, khử ẩm, hoạt huyết, chữa bệnh gập duỗi cơ, đau khớp do gió, các vết bầm tím và một số bệnh khác [38]. Tại tỉnh Vân Nam (tây nam Trung Quốc), cộng đồng dân tộc Yao sử dụng phần trên của L. để chữa đau, bệnh thấp khớp, các bệnh ngoài da và hoạt huyết bằng cách tắm nước sắc các cây này [20].