MỞ ĐẦU Ngày nay, cùng với sự phát triển nền y học hiện đại, con người đã có thé tong hợp được rất nhiều các hoạt chất có tác dụng chữa bệnh nhưng các phương thuốc từ cây có vẫn được xem là có hiệu quả tốt, an toàn và được sử dụng rộng rãi. Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phương Tây, PassifloraincarnataLinneaus là một trong những loại thảo dược được sử dụngtừ xa xưanhờ tác dụng giảm đau, an than. Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về thành phan hóa học cũng như các hoạt tính sinh học của loài cây này. Ngoài khả năng giảm đau, an thần loài cây này còn được dùng như một phương thức phòng ngừa các bệnh tim mạch.
Các gốc tự do có khả năng tân công các cơ quan, bộ phận trong cơ thé, đặc biệt là những nơi tiêu thụ nhiều oxi như các mạch máu não là một trong những nguyên nhân gây xơ vữa động mạch, đau tim.Phương pháp khảo sát hoạt tính kháng oxi hóa in vitro DPPH dựa trên nguyên tắc bắt giữ sốc tự do là phương pháp phù hợp dùng để tìm hiểu cơ chế tác dụng của loài cây này. Ở nước ta, loài cây này không được biết đến nhiều. Theo đó, số lượng các nghiên cứu va ứng dụng gan như không có. Với mục đích tạo tiền đề cho các nghiên cứu ứng dụng loài cây như một loại thảo dược mới được trông ở Việt Nam bên cạnh góp phan b6 sung vào kho tàng kiến thức về các loại thảo dược trên thế giới.
Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Góp phân nghiên cứu thành phan hóa học và hoạt tính kháng oxi hóa in vitro của Lạc tiên Tây (PassifloraincarnataLinneaus)”. CH ƠNG 1 TONG QUAN Trang | Trước khi đi vào thực nghiệm, chúng tôi tiến hành tham khảo một số tài liệu và có những nhận xét về đại cương thực vật cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Đặc điểm thực vật Tên khoa học: PassifloraincarnataLinneaus CHới : Plantae Bộ: Malpighiales Họ :Passifloraceae ` Chi: Passiflora Loai : Passifloraincarnata Loài cây nay được biết đến nhiều ở các nước phương Tây, xuất hiện trong dược điển nhiễu nước với nhiều tên gọi nhưViz., Maypop, Passion flower, Passion Vine, Maracuja, Carkilelek, Zahril, Aalaam va Prem-pushpi. Trong dược điển của Brazil, Passion flower lại được dùng để gọi PassifloraalataDryand.
Tại Việt Nam, loài cây này cũng đã xuất hiện trong một số tài liệu. Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ, loài cây này được gọi tên là Mắc mát hay Lạc tiên. Tac giả Đỗ Huy Bích cũng gọi là cây Mắc mát, nhưng dành tên Lạc tiên để gọi PassiflorafoetidaL. và dùng tên Lạc tiên Tây cho loài cây này dé phân biệt.
Lạc tiên Tâylà cây 2 lá mâm, có dạng thân leo, mãnh, vỏ màu xám nhạt sau chuyển mau đỏ tia, khi non có lông mịn, dài 3-9m. Lá có phiến, có ba thùy, mọc so le, không lông, rộng 7-12 em, đáy hình tim, mép có răng cưa rất nhỏ. Hoa màu trắng có tràng tía, thơm, mọc đơn độc, rộng 4-5 cm, nở quanh năm, thường vào buổi trưa, tức là khoảng thời gian âm áp nhất trong ngày Quả hình trứng, bên trong có nhiều hạt, khi chín chuyển từ màu xanh sang vàng, to 3,5-7 cm, có thé ăn được. Hạt bên trong quả mau nau đậm, dài 4-6 mm!!! Trang 2 Thân Lạc tiên Tây Lá Lạc tiên lây Hoa Lạc tiên Tây Quả Lạc tiên Tây Quả Lạc tiên Tây cắt ngang Hạt Lạc tiên Tây Hình 1.1: Một số bộ phận thực vật của Lạc tiên Tây CÔNG TY TNHH SX - TM HỒNG ĐÀI VIỆT | A944 CC Bị KHÁNH HỘI 380C BEN VĂN VĂN © DỒN Pt.
Hồ Chi Minh Tot (848) 0627105 : 9409144 „e284« GARY CHONG NHỆN Đ: ĐIẾ0 BEEN VE 4X AN TOÁN HIVE rin j a) Dh: Dw FTP OC AYVXTP - HỘ Y TẾ + teen oe : : 5 OK 9944 009916 < “949 “90g, lộ (nộp - váy 92/096 REE 224005: Merwe mong ig —”. eS 1309 363/147 96V /S% LỆ heer TẤT Do V Na r i VORA CS Sẽ. 1m On Onn 4 j 250g Sản xuất tại: Trung tâm nghiên cứu và sản xuất được liệu miễn Trung KCN Hoà Hiệp Nam - Đông Hoà - Phó Yee - De : 097 35346009 Hình 1.2: Một số sản phẩm từ Lạc tiên Tây Trang 3 1. — Phân bốsinh thái Chi Passiflora lần đầu tiên được biết đến vào năm 1529 ở Peru trong những ghi chép của nhà nghiên cứu Monardus người Tây Ban Nha.
Chi Passiflora là chi lớn nhất trong hoPassifloraceae, gồm hơn 500 loài, thường phân bỗ ở khu vực nhiệt đới và có khí hậu ấm áp của châu Mỹ, cũng có ở châu Á, châu Úc và châu Phi nhưng không nhiều. Trong khi một số loài khác như Passifloraedulis, PassifloraLauriflolia L., được trồng do cho quả ăn được hay cho hoa lạ, rất đẹp, một số khác lại được trồng để chữa làm cây thuốc.la một loại thảo dược được sử dung pho biến trong dân gian ở các nước phương Tây nhờ tính năng làm dịu than kinh, giảm đau nhẹ va cũng được trồngđề làm cảnh trong vườn do có hoa rat đẹp. có nguồn gốc từ Đông Bắc nước Mỹ, tuy nhiên, theo tác giả Pham Hoàng Hộ, PassifloraincarnataL. có nguồn gốc từ châu Phi và xuất hiện ở Việt Nam từ trước kháng chiến ở Hà Nội và Đà Lạt dưới tên gọi là Mắc mát để làm cảnh và ăn quả, chưa thay có ghi nhận về khả năng chữa bệnh!?!!P!®L.
Y học dân gian Ở Việt Nam, Lạc tiên Tây không được biết đến nhiều nhuPassiflorafoetida L.- một cây cùng chi Passiflora- còn được gọi là Lac tiên được dùng phố biến trong dân giandé làm thuốc hay nau nước uống, có tác dụng an thân, dễ ngủ! 1, Ở các nước phương Tây, Lạc tiên Tâylại là loại thảo được được dùng phổ biến nhất so với các loài khác trong chi Passifora dé chữa bệnh. Thổ dân châu Mỹ dùng lá Lạc tiên Tây như thuốc nhuận trường, thuốc giảm dau nhức, trị tiêu chảy, kiết ly, kinh nguyệt bất thường, mất ngủ, động kinh, co giật, dùng trái trị ho và là thuốc bồ tim. Lạc tiên Tây được dùng làm trà an thần ở Bắc Mỹ. Ở Brazil, Lạc tiên Tây được dùng để giảm đau, chống co thắt, trị hen và an than.
Olrac, Lạc tiên Tây được dùng làm thuốc an than và thuốc ngủ. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, Lạc tiên Tây dùng trong những trường hợp đau bụng kinh, động kinh, mất ngủ, rồi loạn thần kinh chức năng và đau dây than kinh. O Ba Lan, Lạc tiên Tây dùng dé chữa chứng suy nhược thần kinh và dễ kích động. Ở Mỹ, Lạc tiên Tây được dùng để chữa tiêu chảy, đau bụng kinh, đau dây thần kinh, bỏng, bệnh trĩ và mất ngủ.
Trang 4 Trong dược điển của nhiều nước, Lạc tiên Tây được m6 tả là một loại dược liệu được dùng từ xa xuadé giảm đau, giảm căng thăng, làm dịu than kinh, an than, lợi tiêu. Ngoài ra, Lạc tiên Tâycòn dùng chữa mat ngủ, hồi hộp, suy nhược than kinh, động kinh, dưới dạng côn thuốc tươi, với liều 30- 50giot/ngày hay dạng cao lỏng với liều 1-5g/ngay hay côn thuốc với liều 2-5 g/ngày. Lạc tiên Tây đã được dược điển Pháp chính thức công nhận là thuốc an than và chống co thắt. Leclerec (Pháp) còn cho rằng Lạc tiên Tây có tác dụng hạ huyết áp, giảm co bóp cơ trơn ruội.
Trong “The Materia Medical Americana’, xuất ban năm 1787 tại Đức, dé cập đến sử dụng Lạc tiên Tây chữa chứng than kinh phân liệt ở người lớn tuổi. Một số tài liệu khác nhắc đến việc sử dụng loại cay nay để chữa rối loạn co that, mat ngủ oO trẻ nhỏ và người lớn tuôi!P!!5!, 1. Cac nghiên cứu khoa hoc Lạc tiên Tây không được trồng pho bién va biét dén rộng rãi ở Việt Nam, do đó, số lượng các nghiên cứu vẻ thành phan hóa hoc cũng như hoạt tính sinh học hau như không được tìm thấy. Ngược lại, tại các nước phương Tây như Úc, Mỹ, Ấn Độ, Lạc tiên Tây lại là loài cây được nghiên cứu từ rat sớm, đặc biệt là về hoạt tính sinh học tác dụng lên hệ than kinhl”!!°l, 1.
Thành phân hóa học Flavonoid, glycoside, alkaloid, hợp chất benzopyrol, hợp chat cyanogen, amino acid và tinh dau là những thành phan đã được tìm thay trong Lạc tiên Tây! !!9. Những nghiên cứu dau tiên dé cập đến thành phan hóa học củaLạc tiên Tây là về các hợp chat alkaloid. Mot số các harmalankaloid khác như harmol(2), harmalin(3) cũng được tìm thay sau đó cùng voiharman trong lá và thân Lạc tiên Tây. Năm 1965, tác giả EskilHultinda xây dựng một phương pháp tách riêng các harmal alkaloid trong dịch chiết ether của Lạc tiên Tây dựa trên sự phụ thuộc của hệ SỐ phân bố của các alkaloidvào pH và khả năng phát quang dưới tia cực tim của chúng.
Hai ankaloidtiép theo được tìm thấy trong cây là harmalol(4) và harmin(S).Năm 1970, Poethke và cộng sự chỉ tìm thay harman nông độ 1,2-3 ppm va không tim thay các harmal alkaloid khác trong cây. Năm Trang 5 1971, Bennati lại tim thay harman và harmine trong cây với hàm lượng 10-20 pg/ 100ml dịch chiết bằng phương pháp phố huỳnh quang trên TLC", Nam 1995, bang phương pháp HPLC pha đảo- một phương pháp rất nhạy và độ chọn lọc cao, đã đạt hiệu quả rất cao trong khảo sát thành phân alkaloid có trong hạt Peganumharmala, tác gia Anne Rehwald và các cộng sự, đã tiến hành khảo sát sự có mặt của tat cả các harmala alkaloid có trong 17 mẫu Lạc tiên Tây khác nhau. Kết quả thu được cho thay chỉ có 1 mẫu có mặt harman nhưng với nông độ rất thấp 0. Cũng băng phương pháp HPLC, từ năm 2001 đến năm 2007, nhiều nghiên cứu để định lượng các harmal alkaloid trong Lạc tiên Tay đã được tiễn hành.
Grice và cộng sự, năm 2001, đã xác định có harman và harmine với hàm lượng 0.012 và 0,007% trong mẫu cây Lạc tiên Tây được trồng trong nhà kính và đối với mẫu cây Lạc tiên Tây được trồng bên ngoài là 0,005% Harman va hầu như không tìm thấy harmine. Các tác giả Abigail Frye và Catherine Haustein, năm 2007, tìm thay harmol và harmin với hàm lượng 0,031 và 0,00935 mg/g mẫu khô trong mẫu Lạc tiên Tay!’ Nam 2010, với sự phát triển của kĩ thuật UPLC, nhóm tác giả Avula và cộng sự đã xây dựng phương pháp phân tích tất cả 5 harmal alkaloid nay bang UPLC-MS, là một phương pháp mới, với độ nhạy cao hơn HPLC, kết quả không cho thay sự có mặt nao cua ca 5 harmal alkaloid nay! HP), Kết quả sự có mặt cũng như hàm lượng các alkaloid này là khác nhau trong các thí nghiệm. Sự khác nhau này hoàn toàn có thể giải thích dựa trên quá trình phát triển của cây tại những nơi thu hoạch khác nhau, và thời gian thu hoạch trong năm cũng khác nhau. nhìn chung hàm lượng của các alkaloid đều rất thấp.