Chương 1: Tổng quan (13 trang); Chương 2: Phương pháp và đối tượng nghiên cứu (7 trang); Chương 3: Kết quả và bàn luận (24 trang). SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƢỜNG CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ CÂY ĐẬU BIẾC [26] 1.
Tên gọi Tên khoa học: Clitoria ternatea L. Tên thông thường: Hoa đậu biếc, Cây đậu biếc, Dây đậu biếc. Tên tiếng Anh: Blue pea flower, Butterfly pea flower, Blue bellvine flower. Phân loại thực vật Giới (Regnum): Thực vât (Plantae).
Mô tả thực vật - Hoa đậu biếc là cây thân thảo leo, thường được leo thành giàn hay leo cột, bờ rào, cây bò dài khoảng 10 – 15m (Hình 1.1); - Thân mềm, có lông nhỏ, phát triển mạnh, thân dẻo, có thể bám quanh vật chủ, hay những cá thể xung quanh; - Lá thuộc dạng kép mọc đối và có cuốn dài, lá cũng có lông, thông thường một lá lớn có 5 lá nhỏ mọc đối nhau, mỗi lá chét như vậy dài khoảng 3 – 4 cm; - Hoa có hai loại, hoa kép và hoa cánh đơn, mùi thơm nhẹ, màu hoa có 2 màu là màu xanh và màu trắng nhưng phổ biến nhất là màu xanh, cuốn nhỏ dài 4 – 7 mm. Lá Bắc con không rụng có dạng hình trứng tròn dài 1 – 1,5 cm, đài hoa nhỏ, có ít lông mịn. Ống tràng hoa hình chuông, thùy hình tam giác hoặc thuôn, ở chính giữa hoa có màu vàng nhạt hay màu trắng rất nổi bật; - Quả cây đậu biếc dài hơi dẹp dài khoảng 7 – 10 cm bên trong có hạt nhỏ, lúc non có màu xanh khi già chuyển sang màu nâu; - Hạt được bao bọc bởi quả của nó, một quả thường có 6 – 8 hạt, hạt có đốm nhỏ, bóng và có màu đen. SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS.
ĐÀO HÙNG CƢỜNG Hình 1. Cây đậu biếc 1. Phân bố và cách trồng [1] Cây đậu biếc phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á có nền khí hậu nhiệt đới như Ấn Độ, Philippin, Việt Nam… Loài thực vật này còn phân bố ở vùng Nam Mỹ, Trung Mỹ như Paraguay, Argentina, Mexico, Brazil…Cây còn phân bố ở các nước Châu Phi như Sudan, Kenya, Burundi, Cameroon… và các vùng Caribean, Madagascar. Có thể thấy cây đậu biếc có sự phân bố rộng rãi trên các lục địa Châu Mỹ, Châu Á và Châu Phi.
Ở Việt Nam cây được tìm thấy chủ yếu tại miền Trung vì ở đây có khí hậu nóng ẩm thích hợp cho loài cây này phát triển. Cây đậu biếc ưa nắng nhưng chịu râm một phần, dễ trồng và chăm sóc. Khi trồng phải bắt cột cắm dè cho cây bám theo, đến khi cây cao và bò dài thì làm dàn hay tìm vật chủ cho cây bò lên. Cây đậu biếc phát triển ở những nơi khắc nghiệt nhưng tốt nhất nên trồng ở những nơi có đất màu mỡ, đầy đủ chất dinh dưỡng, khi trồng cần phải bón phân hữu cơ để cây phát triển cứng cáp.
Cây ưa ẩm nhưng thoát nước tốt, lúc trưởng thành thì không cần phải tưới nước nhiều, chỉ cần tưới từ 3 đến 4 lần. Giá trị sử dụng của Cây Đậu Biếc [1] Y học cổ truyền Ấn Độ coi cây đậu biếc như một phương thuốc quý để chữa trị nhiều căn bệnh, bằng việc sử dụng nhiều bộ phận khác nhau từ như rễ, hạt, lá, hoa. SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƢỜNG Các hoạt chất chiết xuất từ cây đậu biếc được ứng dụng làm chế phẩm Shankhpushpy (Hình 1.2) có tác dụng bổ não và cải thiện trí nhớ cho trẻ.
Chế phẩm Shankhpushpy Lá và rễ của cây đậu biếc có tác dụng điều trị một số căn bệnh như đau nhức cơ thể, nhiễm trùng, rối loạn hệ tiết niệu, giải độc, thuốc bôi các vết côn trùng cắn. Rễ cây có vị đắng chát, có tính chất nhuận tràng và lợi tiểu sử dụng điều trị các bệnh như táo bón, khó tiêu. Rễ cây còn điều trị bệnh viêm họng và viêm khớp. Nước ép từ rễ cây đậu biếc hoa trắng có tác dụng chữa bệnh đau nửa đầu.
Hạt cây đậu biếc xay thành bột và trộn với gừng được dùng làm thuốc nhuận tràng. Bộ phận hạt còn được cân nhắc để đưa vào điều trị hội chứng colic, bệnh phù nề. Phần rễ, thân và hoa được khuyến khích sử dụng khi bị rắn cắn, bò cạp chích ở Ấn Độ. Ở Cuba, thuốc sắc từ rễ hoặc hỗn hợp rễ và hoa đậu biếc có tác dụng điều kinh ở phụ nữ, khi ngâm rễ cây hoặc hoa với nước và uống một ly vào buổi tối sẽ thúc đẩy thời kỳ kinh nguyệt và làm co bóp tử cung.
Ngâm hỗn hợp rễ và hoa đậu biếc vào rượu vang và uống mỗi cốc một ngày để điều trị bệnh clorosis (một căn bệnh liên quan đến sự thiếu máu xuất hiện ở thanh thiếu niên) và điều trị các vấn đề về gan và ruột. Ngoài các công dụng trị bệnh ra thì cây đậu biếc còn được trồng để làm cảnh, dùng làm cây phân xanh và cải tạo đất. Màu từ hoa đậu biếc có tác dụng làm phụ gia tạo màu cho các loại thực phẩm. Các bộ phận như chồi, lá, hoa còn được dùng làm thực phẩm.
SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƢỜNG 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÂY ĐẬU BIẾC 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc [27] Theo B.S Trần Văn Nam – nguyên Viện phó Viện Y Dược học Dân tộc TP.HCM cho biết hiện tại cây đậu biếc vẫn chưa có trong sách dược liệu kinh điển tại Việt Nam cũng như không có ở trong Dược điển Việt Nam IV nên các công trình nghiên cứu về loài thực vật này tại Việt Nam là không có.
Cho đến nay, chỉ có công trình nghiên cứu “Tối ưu hóa điều kiện trích ly Anthocyanin từ Hoa đậu biếc” của T.S Mai Huỳnh Cang – Đỗ Thị Thủy Tiên – Nguyễn Thị Tú (Bộ môn Công nghệ Hóa học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh) đăng trên tapchicongthuong.vn số ra ngày 8/1/2020. Công trình này nghiên cứu về các chỉ tiêu hóa lý của hoa đậu biếc tươi và nêu ra điều kiện chiết tách Anthocyanin tối ưu nhất từ Hoa đậu biếc bằng dung môi ethanol: - Tỉ lệ dung môi và nguyên liệu: 147/1 (ml/g); - Nhiệt độ chiết tách: 59oC; - Thời gian chiết tách: 105 phút. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.
Nghiên cứu về thành phần hóa học của Cây đậu biếc Rajagopalan (1994) đã nghiên cứu và công bố sự có mặt của 10 amino acid tự do ở trong rễ cây đậu biếc [2]. Các amino acid này được hiển thị ở Bảng 1. Các amino acid có mặt trong rễ cây đậu biếc STT Tên thành phần Công thức cấu tạo Glycine 1 C2H5NO2 Alanine 2 C3H7NO2 Leucine 3 C6H13NO2 SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƢỜNG - aminobutyric acid 4 C4H9NO2 Aspartic acid 5 C4H7NO4 Glutamic acid 6 C5H9NO4 -methyleneglutamic acid 7 C6H11O4 Arginine 8 C6H14N4O2 Ornithine 9 C5H12N2O2 Histidine 10 C 6 H9 N3 O2 Barnejee và các cộng sự vào các năm 1963, 1964 đã phân lập và định danh được 2 hợp chất pentacyclic triterpenoid từ rễ cây đậu biếc bao gồm taraxerol và taraxerone [3] [4].
Trong đó hợp chất taraxerol sở hữu nhiều hoạt tính sinh học, taraxerol cho thấy được hoạt tính chống viêm đáng kể được nghiên cứu trên loài chuột cũng như hoạt tính chống ung thư, hoạt tính kháng dòng tế bào sarcoma 180 SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƢỜNG [5]. Taraxerol còn có hoạt tính kháng khuẩn, là chất tăng cường quá trình apotosis (quá trình gây chết tế bào) [5]. Taraxerol Taraxerone Yadava và Verma (2003) đã phân lập được hợp chất flavonol glycoside có tên 5,7,3’,4’-tetrahydroxy-3-methoxy-7-O--L-rhamnopyranosyl(1,3)-O--D- galactopyranoside từ cao chiết phân đoạn ethyl acetate trong tổng cao ethanol chiết từ rễ cây đậu biếc, đây là loại flavonol mới có hoạt tính kháng khuẩn [6].
5,7,3’,4’-tetrahydroxy-3-methoxy-7-O--L-rhamnopyranosyl(1,3)-O--D- galactopyranoside Joshi và các cộng sự vào năm 1981 định danh được 5 loại acid béo có trong hạt cây đậu biếc [7]. Các loại acid béo này được hiển thị tại Bảng 1. SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƢỜNG Bảng 1.
Các loại acid béo trong hạt cây đậu biếc STT Tên thành phần Công thức cấu tạo Palmitic acid 1 C16H32O2 Stearic acid 2 C18H36O2 Oleic acid 3 C18H34O2 Linoleic acid 4 C18H32O2 Linolenic acid 5 C18H30O2 Một số hợp chất khác có mặt trong hạt cây đậu biếc bao gồm p – hydroxycinnamic acid, ethyl--D-galactopyranoside, adenosine, 3- rhamnoglucoside, hexacosanol, -sitosterol, -sitosterol được hiển thị tại Bảng 1. Trong đó, đáng chú ý nhất là hợp chất -sitosterol có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư đại tràng HT-29 ở người [9]. SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƢỜNG Bảng 1.
Một số thành phần khác có trong hạt cây đậu biếc STT Tên thành phần Công thức cấu tạo 1 p – hydroxycinnamic acid 2 Ethyl--D-galactopyranoside 3 Adenosine 4 3-rhamnoglucoside 5 Hexacosanol 6 -sitosterol Norihiko Terahara và các cộng sự (1990, 1996, 1998) đã định danh được 15 hợp chất ternatin anthocyanin chủ yếu trong hoa đậu biếc bao gồm A1, A2, A3, B1, B2, B3, B4, C1, C2, C3, C4, C5, D1, D2, D3. Cấu trúc hóa học của các ternatin đó đều có bộ khung Delphinidin-3-malonylglucoside (Hình 1. SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 10 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS. ĐÀO HÙNG CƢỜNG Các ternatin được tổng hợp tại Bảng 1.
Hợp chất Delphinidin-3-malonylglucoside Bảng 1. Cấu trúc của các ternatin Ternatin R R1 Ternatin A1 GCGCG GCGCG Ternatin A2 GCGCG GCG Ternatin A3 GCG GCG Ternatin B1 GCGCG GCGC Ternatin B2 GCGC GCG Ternatin B3 GCGCG GC Ternatin B4 GCG GC Ternatin C1 GCGC G Ternatin C2 GCGCG G Ternatin C3 GC G Ternatin C4 GCG G Ternatin C5 G G Ternatin D1 GCGC GCGC Ternatin D2 GCGC GC Ternatin D3 GC GC Trong đó: G là D – Glucose. C là p – Coumaric acid. SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 11 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS.
ĐÀO HÙNG CƢỜNG D – Glucose p – Coumaric acid Kazuma (2003) đã công bố 14 loại flavonol glycoside từ hoa đậu biếc có bộ khung được thể hiện ở Hình 1.4 và được tổng hợp ở Bảng 1. Bộ khung của 14 loại flavonol glycoside từ hoa đậu biếc Bảng 1. Các loại flavonol glycoside từ hoa đậu biếc Flavonol glycoside R1 R2 R3 R4 Kaempferol-3-O-(2”-O-- rhamnosyl-6”-O-malonyl)-- H H rhamnosyl malonyl glucoside Quercetin-3-O-(2”-O--rhamnosyl- OH H rhamnosyl malonyl 6’’-O-malonyl)--glucoside Myricetin-3-2G-rhamnosylrutinoside OH OH rhamnosyl rhamnosyl Quercetin-3-2G-rhamnosylrutinoside OH H rhamnosyl rhamnosyl Kaempferol-3-2G- H H rhamnosyl rhamnosyl rhamnosylrutinoside Kaempferol-3-neohesperidoside H H rhamnosyl H Quercetin-3-neohesperidoside OH H rhamnosyl H Myricetin-3-neohesperidoside OH OH rhamnosyl H SVTH: PHAN QUỐC THẮNG Trang 12 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: GS.