đặt vấn đề là đưa loài Voọc mông trắng tách ra thành một loài riêng biệt gọi là Semnopithecus delacouri, nhưng lúc đó quan điểm này chưa được chấp nhận rộng rãi. Đây là tên hiện được công nhận và dùng rộng rãi trong tất cả các nghiên cứu trên thế giới. Các công trình phân loại học của Eudey (1997), Rowe (1996), Nowak (1999) và nghiên cứu phân tích di truyền trong phân loại của Roos et al. Phân tích tiến hóa về mặt phân tử của Đặng Tất Thế (2005) và của Brandon-Jones et al.
Trong bản khóa luận này sử dụng hệ thống phân loại thú Linh trưởng theo hệ thống phân loại của Groves (2004) [.] vì đây là hệ thống phân loại phản ánh đầy đủ phân loại học của khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoa học sử dụng rộng rãi. Vị trí phân loại của Voọc mông trắng hiện nay như sau: 8 - Bộ Linh trưởng – Primates - Họ khỉ, Voọc – Cercopithecidae Họ phụ Voọc – Colobinae - Giống – Trachypithecus - Voọc mông trắng – Trachypithecus delacouri 1. Đặc điểm hình thái của loài Voọc mông trắng Voọc mông trắng có bộ lông dài, rậm. Lông màu đen, có chai mông, không có túi má.
Phần lông từ giữa eo đến đầu gối màu trắng, còn gọi là Voọc quần đùi trắng. Mặt chụi lông, da mặt, lòng bàn tay, lòng bàn chân màu đen. Mắt nâu đen, mi mắt không nhô ra. Voọc mông trắng mũi tẹt, khuôn mặt tương đối bằng phẳng, phần lông ở hai bên má thưa, có màu trắng xám và bông lên như tơ.
Vệt trắng ở má kéo dài lên phía trên hai vành tai ra tận phía sau gáy, phần lông ở đây không bông lên, phần chỏm lông ở phía đỉnh đầu dựng thẳng đứng tạo thành mào lông hình chóp nhọn và hướng về phía trước. Ở sau gáy từ đỉnh đầu xuống đến gáy có hàng lông dựng đứng. Đuôi dài màu đen, lông đuôi dài và bông, các sợi lông mọc vuông góc với thân đuôi. Phần gốc đuôi có đường kính khoảng 10 cm, nhìn toàn thể đuôi Voọc có dạng thon đều về phía chóp đuôi.
Voọc mông trắng có trọng lượng cơ thể con trưởng thành từ 6,5 – 7,6kg. Toàn bộ cơ thể dài 1400 – 1410mm, dài đầu và thân 570 – 580mm, dài đuôi 820 – 840mm, dài bàn chân sau 183mm, cao tai 40 – 43mm. Hộp sọ của loài này có chiều dài trung bình là 98,4mm; vồng miệng 35,4mm (W.2: Loài Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) Nguồn: VTV 1. Một số đặc điểm về sinh học, sinh thái của Voọc mông trắng ❖ Sinh cảnh sống Voọc mông trắng sống chủ yếu ở rừng cây gỗ trên núi đá vôi.
Tuy nhiên do sự chia cắt, nên Voọc mông trắng sống cả trong những sinh cảnh rừng nghèo, thậm chí chỉ có dây leo bụi rậm. Thích hợp là rừng ở chân và sườn núi nơi có tầng tán rừng cao trên 10m. Không sống nơi có tầng tán thấp dưới 5m. Mùa nóng, Voọc mông trắng ngủ trên vách đá, mùa lạnh ngủ trong hang.
❖ Thức ăn Voọc mông trắng ăn lá, chồi non và quả cây rừng. Không ăn động vật. Nghiên cứu thức ăn tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương đã ghi nhận được Voọc mông trắng ăn 204 loài thực vật thuộc 57 Họ. Trong 204 loài thực vật làm thức ăn, Voọc mông trắng ăn chồi lá 203 loài, ăn hoa của 16 loài, quả của 13 loài, củ 3 loài và ăn vỏ của 10 loài.
Nhu cầu thức ăn trung bình ngày là 1184g (bằng 16.91% trọng lượng cơ thể) và phụ thuộc vào giới tính, tuổi và thời tiết (chủ yếu là nhiệt độ) trong ngày. Lượng nước uống trong ngày biến động từ 400 đến 500 ml/con [3]. ❖ Di chuyển và kiếm ăn Voọc mông trắng sống theo đàn. Kết quả khảo sát thực địa cho thấy số lượng con trong đàn biến đổi từ 5 đến 14 con.
Vùng hoạt động kiếm ăn của Voọc mông trắng tương đối rộng, cả trên 10 núi đất lẫn núi đá nhưng chúng ngủ trên núi đá. Kiếm ăn ngày hai buổi sáng và chiều, trưa nghỉ. Nghiên cứu trong điều kiện nuôi nhốt cho thấy Voọc thường có giấc ngủ trưa bắt đầu từ khoảng 12 giờ và tỉnh dậy vào khoảng 13 giờ. Thời gian ngủ trưa kéo dài từ 37 đến 60 phút.
❖ Tập tính xã hội học Voọc mông trắng sống thành đàn, các tập tính xã hội học của Voọc mông trắng đã ghi nhận được bao gồm: kiếm ăn, di chuyển, nghỉ ngơi, chơi đùa, quan sát và tự vệ. Nguyễn Hữu Hiến (2001) chỉ ra rằng, Voọc mông trắng dành tới 42% cho hoạt động ngủ tối, sau đó đến thời gian dành cho ngủ trưa, 18%. Thời gian ăn uống chiếm tới 17% và chỉ có 8% là dành cho di chuyển, còn 15% thời gian chúng dành cho các hoạt động khác [11]. ❖ Sinh sản Dẫn liệu sinh sản Voọc mông trắng còn ít.
Quan sát tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương cho thấy hoạt động giao phối của Voọc mông trắng thường diễn ra vào hai thời điểm sáng sớm và sau buổi ăn chiều. Thời gian giao phối kéo dài 15 đến 30 giây [5]. Thời gian mang thai trung bình 196 ngày. Mùa sinh sản tập trung từ tháng 2 đến tháng 8.
Mỗi năm Voọc đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ một con, con sơ sinh nặng 350 - 500g (Tilo Nadler, 1994). Bộ lông con sơ sinh màu vàng. Voọc trưởng thành sinh dục sau 5 năm tuổi. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của khu vực nghiên cứu 1.
Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý VQG Cúc Phương có tọa độ địa lý từ 12º14' tới 20º24' vĩ bắc, từ 105º29' tới 105º44' kinh đông; cách thủ đô Hà Nội khoảng 120km về phía Tây Nam và cách biển Đông khoảng 60km theo đường chim bay. Vườn có diện tích 22.200 ha, chiều dài khoảng 30km, chiều dài nơi rộng nhất khoảng 10km. VQG Cúc Phương nằm trên địa giới hành chính của ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh 11 Hóa, được thành lập theo Quyết định số 72/TTg ngày 7/7/1962 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 139/CT ngày 9/5/1998 của Chính phủ.
Trong đó diện tích thuộc tỉnh Ninh Bình là 11. Đây là khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng thuộc địa giới hành chính của 3 tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa và Hòa Bình, với hệ động, thực vật phong phú, đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt đới. Đây cũng là VQG đầu tiên tại Việt Nam [10]. Điều kiện khí hậu ❖ Chế độ nhiệt Kết quả quan trắc 15 năm của trạm khí tượng Bống cho thấy, nhiệt độ trung bình năm là 20,6ºC.
Năm 1966, nhiệt độ bình quan năm lớn nhất là 21,2ºC. Năm 1971, nhiệt độ bình quân năm thấp nhất là 19,9ºC. Chế độ nhiệt ở Cúc Phương chịu ảnh hưởng của độ cao và thảm thực vật rừng. Điều đó được thể hiện từ số liệu quan trắc của 3 trạm khí tượng như sau [24].
Ở trạm Bống, là trung rừng nguyên sinh có độ cao so với mặt biển khoảng 350m, thảm thực vật rừng rất tốt, nhiệt độ trung bình năm khoảng 20,6ºC. Ở trạm Đăng, nằm ở vùng rừng thứ sinh, rừng có chất lượng kém hơn, một số đã bị khai thác chọn hoặc làm nương rẫy. Độ cao so với mặt nước biển sấp xỉ 200m. Nhiệt độ bình quân năm là 21,8ºC, cao hơn ở Bống 1,2ºC.
Ở trạm Nho Quan, nằm ngoài ranh giới vùng, cách trung tâm Vườn 20km, ở đây không có rừng, độ cao so với mặt nước biển lầ 20m, nhiệt độ bình quân là 22,7ºC, cao hơn nhiệt độ bình quân ở Bống là 2,1ºC và cao hơn nhiệt độ bình quân của Đăng là 0,9ºC. ❖ Chế độ mưa Lượng mưa bình quân năm của Cúc Phương biến động từ 1800mm đến 2400mm, bình quân năm là 2138mm. Đó là lượng mưa tương đối lớn so với vùng xung quanh. Tháng có mưa lớn nhất là tháng 9 với lượng mưa bình quân 12 410,9, trong khi đó các tháng 1, 2, 3 và 7 lượng mưa mỗi tháng chưa được 50mm [24].
❖ Độ ẩm không khí Độ ẩm tương đối, không khí trung bình năm ở Cúc Phương là 90%, tháng thấp nhất không dưới 88%. Trong khi đó độ ẩm tuyệt đối biến thiên giống như nhiệt độ trong không khí [24]. ❖ Chế độ gió VQG Cúc Phương nằm trong khu vực khí hậu hiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc về mùa đông là gió mùa Đông Nam về mùa hè. Ngoài ra, về mùa hè nhiều ngày có gió Lào thổi mạnh.
Tuy nhiên, do điều kiện địa hình, gió sau khi vượt qua các yên ngựa và hẻm núi đi sâu vào rừng bị thay đổi hướng rất nhiều và tốc độ gió thường là 1-2m/s [24]. Địa hình và thủy văn Cúc Phương nằm ở phía đông nam của dãy núi Tam Điệp, một dãy núi đá vôi chạy từ tỉnh Sơn La ở hướng tây bắc. Dải núi đá vôi này với ưu thế là kiểu karst tự nhiên, hình thành trong lòng đại dương cách đây khoảng 200 triệu năm. Dãy núi này nhô lên đến độ cao 636 m tạo thành một nét địa hình nổi bật giữa một vùng đồng bằng.
Phần dãy núi đá vôi bao quanh vườn quốc gia có chiều dài khoảng 25 km và rộng đến 10 km, ở giữa có một thung lũng chạy dọc gần hết chiều dài của dãy núi. Địa hình karst ảnh hưởng rõ nét đến hệ thống thủy văn của Cúc Phương. Phần lớn nước trong vườn quốc gia bị hệ thống các mạch nước ngầm hút rất nhanh, nước sau đó thường chảy ra ở những khe nhỏ ở bên hai sườn của vườn quốc gia. Do vậy, không có các ao hồ tự nhiên hay các thủy vực tĩnh nằm trong vườn, mà chỉ có một dòng chảy thường xuyên là sông Bưởi.
Con sông này nằm ở phía tây của vườn, chảy đổ vào sông Mã. Rừng Cúc Phương còn đóng vai trò bảo vệ đầu nguồn hồ chứa nước Yên Quang. Hồ cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp các vùng lân cận [9]. Khu hệ thực vật Cúc Phương có hệ thực vật phong phú.
Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được gần 2.000 loài thực vật có mạch thuộc 887 chi trong 221 họ thực vật. Trong đó; ngành quyết thực vật có 31 họ, 57 chi, 149 loài; ngành hạt trần có 3 họ, 3 chi và 3 loài; ngành hạt kín có 154 họ, 747 chi và 1588 loài. Với diện tích chỉ bằng 1/700 diện tích miền Bắc và gần 1/1500 diện tích của cả nước nhưng hệ thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương chiếm tỷ lệ 76% số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc và chiếm 68,9% số họ, 43,6% số chi và 24,6% số loài hiện có ở Việt Nam. Thảm thực vật Cúc Phương với ưu thế là rừng trên núi đá vôi.