Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y tế công cộng của nghiên cứu sinh Trần Quốc Cường, chuyên ngành Y tế công cộng (mã số: 62 72 03 01), thực hiện tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Anh Tuấn, tập trung giải quyết bài toán kiểm soát bệnh tăng huyết áp tại tuyến y tế cơ sở thuộc một địa bàn ven đô đang đô thị hóa nhanh.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ gánh nặng bệnh không lây nhiễm ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2000 thế giới có 972 triệu người mắc tăng huyết áp, dự báo tăng lên 1,56 tỷ người vào năm 2025; năm 2015, căn bệnh này là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm với khoảng 10 triệu trường hợp tử vong và 212 triệu năm sống mất đi (DALYs). Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành tăng từ 16,3% (năm 2000) lên 25,4% (năm 2009) và đạt 47,3% - 48% trong giai đoạn 2015 - 2016. Tỷ trọng tử vong do bệnh không lây nhiễm tăng từ 56% năm 1990 lên 72% năm 2010, trong đó bệnh tim mạch chiếm 30% tổng số ca tử vong và có 35% - 40% nguyên nhân bắt nguồn từ tăng huyết áp.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định rõ: Mặc dù Chính phủ đã ban hành các chính sách chiến lược như Quyết định số 2331/QĐ-TTg, Quyết định số 2406/QĐ-TTg (Chương trình mục tiêu quốc gia y tế giai đoạn 2012 - 2015 với "Dự án phòng chống tăng huyết áp"), Quyết định số 376/QĐ-TTg và Quyết định số 1125/QĐ-TTg, công tác quản lý điều trị thực tế tại tuyến xã/phường vẫn gặp nhiều rào cản do thiếu hụt nguồn lực. Kết quả điều tra của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2015 cho thấy có 39,1% người tăng huyết áp không được phát hiện, 7,2% không được điều trị và 69,0% chưa kiểm soát được huyết áp. Tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, cho đến năm 2018, toàn bộ 12 trạm y tế phường mới chỉ quản lý bệnh nhân trên hồ sơ, sổ sách qua các đợt khám sàng lọc của chương trình mà chưa triển khai mô hình quản lý điều trị ngoại trú cấp thuốc trực tiếp tại trạm.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 mục tiêu cụ thể:
- Mô tả thực trạng tăng huyết áp, một số yếu tố liên quan ở người 18 - 69 tuổi tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018.
- Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp dự phòng và điều trị tăng huyết áp cho người 18 - 69 tuổi tại cấp phường quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019 - 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Người dân từ đủ 18 đến 69 tuổi thường trú từ 12 tháng trở lên tại địa bàn (mục tiêu 1 và hợp phần can thiệp dự phòng cộng đồng mục tiêu 2); người từ đủ 18 đến 69 tuổi được chẩn đoán tăng huyết áp nguyên phát độ 1 và độ 2 đang điều trị ngoại trú hoặc tự điều trị tại nhà (hợp phần can thiệp điều trị tại trạm y tế mục tiêu 2).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tiến hành tại 3 phường đại diện của quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh gồm phường Linh Xuân, phường Tam Phú và phường Hiệp Bình Chánh.
- Phạm vi thời gian: Toàn bộ nghiên cứu kéo dài 23 tháng (từ tháng 08/2018 đến tháng 06/2020), chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 điều tra cắt ngang thực trạng kéo dài 5 tháng (08/2018 - 12/2018); Giai đoạn 2 triển khai can thiệp và đánh giá hiệu quả kéo dài 18 tháng (01/2019 - 06/2020).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế theo ba trục nội dung chính: dịch tễ học tăng huyết áp, các yếu tố liên quan đến bệnh, và các mô hình can thiệp tại tuyến y tế cơ sở.
Về tình hình dịch tễ học tăng huyết áp và các yếu tố liên quan:
Tác giả tổng hợp các báo cáo của WHO (2013, 2014) ghi nhận tỷ lệ tăng huyết áp người trưởng thành toàn cầu khoảng 22%, cao nhất ở khu vực châu Phi (30%) và Đông Nam Á (25%). Các công trình quốc tế được điểm lại gồm: nghiên cứu của Damasceno A. và cộng sự (2009) tại Mozambique; Qian Y. và cộng sự (2009) tại Trung Quốc; khảo sát NHANES lần thứ 5 (2010 - 2012) tại Hàn Quốc; điều tra STEPS tại Campuchia (2010); nghiên cứu tổng hợp 142 bài báo tại Ấn Độ (2014); điều tra lặp lại 7 năm tại Rumani (2014); và nghiên cứu đoàn hệ 22 năm của Qi S.F. và cộng sự (2015) trên 118.694 đối tượng tại Trung Quốc chứng minh chỉ số BMI > 22 kg/m² chi phối 32% nguy cơ tăng huyết áp dân số (OR = 3,13 với nhóm BMI ≥ 28 kg/m²). Tại Việt Nam, tác giả đối chiếu các mốc dịch tễ từ nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh (1960 - 1992), Điều tra Y tế Quốc gia (2001 - 2002), nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt và cộng sự (2008, 2015 - 2016), Điều tra Quốc gia STEPS của Bộ Y tế (2015), nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh của Trần Thiện Thuần (2005), Trịnh Thị Phương Thảo (2010), Lý Huy Khanh (2011), Nguyễn Thị Thanh Nga (2013), và nghiên cứu của Đỗ Thị Phương Hà (2015).
Về các can thiệp phòng chống tăng huyết áp tại cộng đồng:
Các mô hình can thiệp quốc tế được phân tích gồm: chương trình sử dụng nhân viên y tế cộng đồng của Gaziano T.A. và cộng sự (2014) tại Nam Phi; can thiệp truyền thông của Khosravi A. và cộng sự tại Isfahan (Iran) làm giảm tỷ lệ tăng huyết áp từ 20,5% xuống 19,6%; mô hình bác sĩ gia đình và dược sĩ cộng đồng tại Canada; can thiệp giảm muối và thuốc lá tại 23 quốc gia của Perviz A. và cộng sự; can thiệp thể dục tại viện dưỡng lão Hàn Quốc của Shin H. và cộng sự; can thiệp tự theo dõi huyết áp bằng máy đo tự động tại Alberta (Canada) của Jones C. và cộng sự; mô hình quản lý phối hợp đa thành phần tại California (Mỹ) của Jaffe M.G. và cộng sự; cùng chương trình giáo dục sức khỏe tại Ba Lan của Zdrojewski T. và cộng sự (2004).
Tại Việt Nam, luận án điểm lại các mô hình can thiệp tiêu biểu:
- Mô hình câu lạc bộ và cấp thuốc miễn phí tại xã Xuân Canh, Đông Anh, Hà Nội của Nguyễn Lân Việt và cộng sự (2008), nâng tỷ lệ kiểm soát huyết áp mục tiêu lên 87,4%.
- Mô hình can thiệp kiểm soát tăng huyết áp nông thôn tại Chí Linh, Hải Dương của Phạm Ngân Giang và cộng sự (2010), đạt hiệu quả can thiệp 9,0%.
- Mô hình dinh dưỡng hợp lý và quản lý nguy cơ tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên của Lại Đức Trường (2010), làm giảm huyết áp tâm thu 2,74 mmHg và huyết áp tâm trương 3,23 mmHg.
- Mô hình quản lý người cao tuổi tại Hưng Yên của Nguyễn Kim Kế và cộng sự (2013), giảm tỷ lệ tăng huyết áp giai đoạn 1 từ 58,7% xuống 26,0%.
- Mô hình sử dụng biểu đồ tự theo dõi huyết áp tại Tiền Hải, Thái Bình của Trần Thị Mỹ Hạnh (2014).
- Mô hình phối hợp tuyến y tế cơ sở tại Bắc Giang của Đinh Văn Thành (2015), nâng tỷ lệ quản lý đạt huyết áp mục tiêu từ 7,3% lên 68,5%.
- Khảo sát tuân thủ điều trị tại miền Bắc của Nguyễn Thị Phương Lan và cộng sự (2016).
- Can thiệp tại huyện Điện Biên của Phạm Thế Xuyên (2019), đạt hiệu quả can thiệp kiểm soát huyết áp mục tiêu 29,6%.
- Đánh giá quản lý ngoại trú tại Nam Sách, Hải Dương của Phạm Minh Khuê và cộng sự (2021).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các can thiệp tại Việt Nam trước đây được triển khai ở khu vực nông thôn miền Bắc hoặc miền Trung. Luận án này lựa chọn giải quyết khoảng trống thực hành y tế công cộng tại một đô thị phía Nam có tốc độ gia tăng dân số cơ học rất cao (tăng 6,35% năm 2018 tại quận Thủ Đức), nơi trạm y tế phường chưa từng triển khai điều trị ngoại trú cấp thuốc bảo hiểm y tế cho bệnh nhân tăng huyết áp. Luận án xây dựng và thử nghiệm mô hình kết hợp song song: can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe dự phòng giảm hành vi nguy cơ trên toàn thể cộng đồng dân cư phường, đồng thời thiết lập quy trình quản lý, theo dõi điều trị dùng thuốc và không dùng thuốc định kỳ ngay tại trạm y tế phường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:
Luận án xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu dựa trên mối quan hệ tương tác giữa ba nhóm biến số:
- Nhóm biến độc lập: Đặc điểm nhân khẩu học cá nhân (tuổi, giới, dân tộc, học vấn, nghề nghiệp, hôn nhân, thu nhập); các hành vi nguy cơ (hút thuốc lá, lạm dụng rượu/bia, ít hoạt động thể lực, ăn mặn, thói quen dùng mỡ động vật); các yếu tố chuyển hóa (thừa cân - béo phì, đái tháo đường, tăng cholesterol máu); và thực trạng bệnh tăng huyết áp.
- Nhóm biến trung gian: Nhu cầu truyền thông - giáo dục sức khỏe của người dân; nhu cầu quản lý điều trị và dự phòng biến chứng của bệnh nhân; cùng khả năng đáp ứng của hệ thống y tế cơ sở (nguồn nhân lực, năng lực chuyên môn của trạm y tế phường và mạng lưới cộng tác viên y tế khu phố, trang thiết bị y tế).
- Nhóm biến phụ thuộc: Sự thay đổi kiến thức, thái độ, hành vi nguy cơ của cộng đồng; mức độ tuân thủ điều trị bằng thuốc và không dùng thuốc; các chỉ số cận lâm sàng (sinh hóa máu, nước tiểu, điện tim); và tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu.
Thiết kế nghiên cứu:
- Đối với Mục tiêu 1: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp hồi cứu hồ sơ bệnh án.
- Đối với Mục tiêu 2: Sử dụng hai thiết kế can thiệp song song:
- Can thiệp dự phòng cộng đồng: Thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có nhóm đối chứng, dựa trên điều tra cắt ngang lặp lại trước và sau 18 tháng can thiệp. Phường Linh Xuân là địa bàn can thiệp; hai phường Tam Phú và Hiệp Bình Chánh là địa bàn đối chứng.
- Can thiệp điều trị tại trạm y tế: Thiết kế nghiên cứu can thiệp thử nghiệm lâm sàng trước - sau không có nhóm đối chứng, theo dõi dọc nhóm bệnh nhân điều trị ngoại trú tại trạm y tế phường Linh Xuân ở các mốc thời gian 3, 6, 12 và 18 tháng.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
- Cỡ mẫu điều tra thực trạng (Mục tiêu 1): Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể, sử dụng tỷ lệ tăng huyết áp p = 47,3% (theo điều tra toàn quốc của Nguyễn Lân Việt 2015 - 2016), mức sai số d = 0,05, hệ số thiết kế DE = 1,5, độ tin cậy 95% (z = 1,96). Cỡ mẫu tối thiểu cho mỗi phường là 575 người. Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 3/12 phường của quận Thủ Đức. Thực tế điều tra theo phương pháp "cổng liền cổng" (door to door) tại hộ gia đình:
- Phường Linh Xuân: 581 người (dân số 18 - 69 tuổi là 26.517 người, tỷ lệ mẫu đạt 2,4%).
- Phường Tam Phú: 789 người.
- Phường Hiệp Bình Chánh: 833 người (dân số 18 - 69 tuổi là 36.260 người, tỷ lệ mẫu đạt 2,3%).
- Tổng cỡ mẫu thực tế tại 3 phường là 2.203 người.
- Cỡ mẫu can thiệp dự phòng cộng đồng (Mục tiêu 2): Sử dụng mẫu điều tra cắt ngang tại thời điểm sau 18 tháng can thiệp: phường can thiệp Linh Xuân n = 581 người (gồm 554 người thuộc mẫu ban đầu đạt 95,4%, bổ sung 27 người thay thế cùng tuổi và giới tính do mất dấu); nhóm đối chứng tại 2 phường Tam Phú và Hiệp Bình Chánh n = 1.622 người (gồm 1.537 người ban đầu đạt 94,8%, bổ sung 85 người thay thế).
- Cỡ mẫu can thiệp điều trị tại trạm y tế (Mục tiêu 2): Tính theo công thức so sánh hai tỷ lệ tuân thủ điều trị (P1 = 85%, P2 dự kiến = 95%, mức ý nghĩa α = 0,05, lực mẫu 90% với z = 1,28), tính được cỡ mẫu tối thiểu n = 187 bệnh nhân. Tác giả rà soát danh sách 1.125 bệnh nhân tăng huyết áp do Trạm Y tế phường Linh Xuân quản lý trên hồ sơ, sàng lọc được 292 bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 và độ 2 thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu can thiệp điều trị trọn vẹn.
Tiêu chuẩn chẩn đoán, công cụ và quy trình thu thập số liệu:
- Tiêu chuẩn tăng huyết áp: Dựa theo Quyết định số 3192/QĐ-BYT (năm 2010) của Bộ Y tế và khuyến cáo ESC/ESH: huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg (lấy giá trị trung bình của 3 lần đo đúng quy trình bằng máy đo huyết áp kế thủy ngân/đồng hồ đã chuẩn hóa), hoặc người có tiền sử tăng huyết áp đang dùng thuốc hạ áp. Phân độ huyết áp: Tối ưu (<120/<80 mmHg), Bình thường (120-129 và/hoặc 80-84 mmHg), Bình thường cao (130-139 và/hoặc 85-89 mmHg), Tăng huyết áp độ 1 (140-159 và/hoặc 90-99 mmHg), Độ 2 (160-179 và/hoặc 100-109 mmHg), Độ 3 (≥180 và/hoặc ≥110 mmHg), Tăng huyết áp tâm thu đơn độc (≥140 và <90 mmHg). Phân tầng nguy cơ tim mạch theo hướng dẫn của Bộ Y tế và JNC VI.
- Phân loại thừa cân, béo phì: Theo tiêu chuẩn WHO dành cho người châu Á (IDI & WPRO): Thiếu cân (BMI < 18,5), Bình thường (18,5 - 22,9), Thừa cân (23,0 - 24,9), Béo phì (BMI ≥ 25,0 kg/m²). Tỷ số vòng bụng/mông: béo bụng khi nam > 0,90 và nữ > 0,85.
- Đánh giá hoạt động thể lực: Theo đơn vị MET của WHO (đạt mức khuyến cáo khi hoạt động thể lực vừa và nặng ≥ 150 phút/tuần hoặc tương đương).
- Chỉ số cận lâm sàng: Xét nghiệm sinh hóa máu (glucose, ure, creatinin huyết thanh, acid uric, cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL-C, LDL-C, AST, ALT); que thử nước tiểu 10 thông số (đánh giá protein niệu, glucose niệu); đo điện tâm đồ 12 chuyển đạo xác định dày thất trái theo chỉ số Sokolow-Lyon (SV1 + RV5 hoặc RV6 > 35 mm).
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm EpiData, phân tích thống kê bằng phần mềm chuyên dụng. Các kỹ thuật phân tích gồm: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn); kiểm định Chi-square (χ²), kiểm định Fisher exact so sánh tỷ lệ; hồi quy logistic đơn biến và hồi quy logistic đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan độc lập (tính tỷ số chênh đã hiệu chỉnh aOR và khoảng tin cậy 95% CI); đánh giá can thiệp bằng chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQ/HQCT) và kiểm định sự khác biệt trước - sau can thiệp và giữa nhóm can thiệp với nhóm đối chứng (p < 0,05).
| Hạng mục phương pháp |
Hợp phần khảo sát thực trạng (Mục tiêu 1) |
Hợp phần can thiệp dự phòng cộng đồng (Mục tiêu 2) |
Hợp phần can thiệp điều trị tại trạm y tế (Mục tiêu 2) |
| Thiết kế |
Mô tả cắt ngang có phân tích |
Can thiệp cộng đồng có đối chứng, cắt ngang lặp lại |
Can thiệp trước - sau không đối chứng, theo dõi dọc |
| Địa bàn |
3 phường (Linh Xuân, Tam Phú, Hiệp Bình Chánh) |
Phường can thiệp: Linh Xuân; Phường đối chứng: Tam Phú, Hiệp Bình Chánh |
Trạm Y tế phường Linh Xuân |
| Quy mô mẫu |
2.203 người (18 - 69 tuổi) |
Nhóm can thiệp: 581 người; Nhóm đối chứng: 1.622 người |
292 bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 và độ 2 |
| Thời gian theo dõi |
5 tháng (08/2018 - 12/2018) |
18 tháng (01/2019 - 06/2020) |
18 tháng (đánh giá tại các mốc 3, 6, 12, 18 tháng) |
| Biện pháp can thiệp |
Không can thiệp (điều tra thực trạng) |
Truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh, tư vấn lối sống, giảm mặn, thể dục |
Khám ngoại trú, lập bệnh án, cấp phát thuốc BHYT, tư vấn tuân thủ, xử trí biến cố |
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề
Phần này làm rõ tính cấp bách của bệnh tăng huyết áp như một vấn đề sức khỏe ưu tiên tại Việt Nam, nêu bật mâu thuẫn giữa nhu cầu quản lý bệnh mạn tính tại địa phương và thực trạng trạm y tế phường tại quận Thủ Đức chưa triển khai điều trị ngoại trú cấp thuốc, từ đó xác lập 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 trình bày hệ thống lý thuyết về sinh lý bệnh học huyết áp, các ngưỡng chẩn đoán theo hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2010 (Bảng 1.1), phân loại thể bệnh, phân độ huyết áp theo khuyến cáo ESC/ESH và Bộ Y tế (Bảng 1.2), phân độ theo JNC VII (Bảng 1.3), phân tầng nguy cơ và chiến lược điều trị theo JNC VI (Bảng 1.4), và phân tầng nguy cơ tim mạch kết hợp tổn thương cơ quan đích theo Bộ Y tế (Bảng 1.5). Chương này cũng điểm lại tình hình bệnh trên thế giới và Việt Nam, phân tích ba nhóm yếu tố nguy cơ (cá nhân, hành vi lối sống, chuyển hóa), tổng thuật các kinh nghiệm can thiệp cộng đồng trong và ngoài nước, phác thảo đặc điểm địa bàn nghiên cứu quận Thủ Đức và xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu gồm ba nhóm biến số (Hình 1.2).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu khoa học: tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng cho từng mục tiêu; phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên cụm và chọn hộ gia đình "cổng liền cổng"; kỹ thuật xác định cỡ mẫu (Bảng 2.1 phản ánh cỡ mẫu điều tra tại 3 phường); tiêu chuẩn phân loại BMI cho người châu Á (Bảng 2.2) và các giai đoạn bệnh thận mạn tính dựa vào mức lọc cầu thận (Bảng 2.3). Chương này quy định chi tiết kỹ thuật đo huyết áp 3 lần, quy trình thu thập mẫu máu, nước tiểu, đo điện tâm đồ, nội dung các hoạt động can thiệp truyền thông và can thiệp điều trị ngoại trú tại trạm y tế, các biện pháp kiểm soát sai số hệ thống, phương pháp phân tích thống kê và nguyên tắc đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu được trình bày mạch lạc theo hai mục tiêu thông qua hệ thống 42 bảng số liệu:
- Về thực trạng tăng huyết áp và các yếu tố liên quan tại quận Thủ Đức năm 2018:
- Tác giả ghi nhận đặc điểm dân số xã hội (Bảng 3.1), trị số huyết áp trung bình qua 3 lần đo (Bảng 3.2), tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp chung và phân loại huyết áp tại thời điểm điều tra (Bảng 3.3, Bảng 3.4), phân bố bệnh theo đặc điểm nhân khẩu và theo phường (Bảng 3.5, Bảng 3.6).
- Thực trạng các yếu tố nguy cơ và phân tích mối liên quan được thể hiện qua các Bảng 3.7 đến Bảng 3.16. Đáng chú ý là kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến xác định các yếu tố liên quan độc lập với bệnh tăng huyết áp: nhóm đặc điểm cá nhân và chỉ số khối cơ thể (Bảng 3.10), nhóm hành vi lối sống gồm hút thuốc lá và thói quen ăn mặn (Bảng 3.11, Bảng 3.14), nhóm bệnh lý chuyển hóa phối hợp gồm đái tháo đường và tăng cholesterol máu (Bảng 3.12, Bảng 3.15), cùng mối liên quan với nhận thức dinh dưỡng và xét nghiệm định kỳ (Bảng 3.16).
- Về hiệu quả can thiệp dự phòng tại cộng đồng (2019 - 2020):
- Tác giả phân tích sự thay đổi kiến thức của người dân về ngưỡng huyết áp, biểu hiện bệnh, biến chứng, yếu tố nguy cơ, biện pháp phòng và điều trị (Bảng 3.17 đến Bảng 3.22).
- Đánh giá sự chuyển biến trong thực hành phòng chống và hành vi nguy cơ (Bảng 3.23, Bảng 3.24).
- So sánh tỷ lệ tăng huyết áp trước và sau can thiệp ở nhóm can thiệp (Bảng 3.25) so với nhóm đối chứng (Bảng 3.26), từ đó lượng hóa mối liên quan giữa tác động can thiệp cộng đồng và tỷ lệ tăng huyết áp (Bảng 3.27).
- Về hiệu quả can thiệp điều trị tại Trạm Y tế phường Linh Xuân (2019 - 2020):
- Xu hướng chỉ định thuốc điều trị: Danh mục thuốc lựa chọn ban đầu so với trước can thiệp (Bảng 3.28), thay đổi phác đồ thuốc khi kết thúc nghiên cứu (Bảng 3.29), tỷ lệ sử dụng đơn trị liệu và phối hợp thuốc hạ áp (Bảng 3.30).
- Cải thiện cận lâm sàng và nguy cơ tim mạch: Biến thiên các chỉ số sinh hóa máu (glucose, chức năng thận ure - creatinin, acid uric, bilan lipid máu, men gan) trước và sau can thiệp (Bảng 3.31); tỷ lệ bất thường protein niệu và glucose niệu (Bảng 3.32); biến đổi chỉ số phì đại thất trái Sokolow-Lyon trên điện tâm đồ (Bảng 3.33); mức độ hiểu biết biến chứng (Bảng 3.34) và phân tầng yếu tố nguy cơ tim mạch tổng thể (Bảng 3.35).
- Tuân thủ điều trị và kiểm soát huyết áp: Mức độ tuân thủ uống thuốc, tự kiểm tra huyết áp và tái khám định kỳ theo các mốc 3, 6, 12 và 18 tháng (Bảng 3.36); tuân thủ chế độ ăn giảm mặn, giảm rượu bia và tập luyện thể dục (Bảng 3.37). Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu qua các mốc theo dõi 3, 6, 12 và 18 tháng (Bảng 3.38), đồng thời phân tích mối liên quan giữa đạt huyết áp mục tiêu với giới tính (Bảng 3.39) và nhóm tuổi (Bảng 3.40).
- Đánh giá an toàn: Tần suất xuất hiện triệu chứng do tác dụng phụ của thuốc hạ áp (Bảng 3.41) cùng số trường hợp gặp biến chứng tim mạch nguy hiểm hoặc tử vong trong 18 tháng theo dõi (Bảng 3.42).
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 dành 40 trang phân tích chuyên sâu các kết quả thu được:
- So sánh tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp và cơ cấu yếu tố nguy cơ tại quận Thủ Đức với các nghiên cứu trong nước (Hà Nội, Thái Nguyên, Hải Dương, Cà Mau, Đồng bằng sông Cửu Long) và quốc tế (Khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Hoa Kỳ).
- Biện giải cơ chế sinh lý bệnh và hành vi học dẫn đến sự khác biệt về nguy cơ mắc bệnh theo tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), thói quen ăn mặn, hút thuốc lá và các rối loạn chuyển hóa đường máu, lipid máu.
- Phân tích cơ chế tác động của can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe tại cộng đồng và can thiệp quản lý điều trị ngoại trú tại trạm y tế phường. Biện luận về tỷ lệ tuân thủ điều trị, khả năng duy trì huyết áp mục tiêu qua 18 tháng, sự dịch chuyển liều lượng và dạng phối hợp thuốc, tính an toàn của phác đồ.
- Nêu rõ các yếu tố thuận lợi (sự ủng hộ của chính quyền địa phương, hỗ trợ chuyên môn từ Bệnh viện quận Thủ Đức và Trung tâm Y tế quận), các khó khăn gặp phải (áp lực đô thị hóa, biến động dân cư cơ học, tâm lý người bệnh muốn vượt tuyến lên bệnh viện tuyến trên) và bàn luận về tính bền vững của mô hình quản lý điều trị tại trạm y tế phường.
- Tự đánh giá các đóng góp mới và những hạn chế nội tại của luận án.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Luận án cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học thực địa đầy đủ và có giá trị khoa học về mô hình bệnh tăng huyết áp cùng các yếu tố nguy cơ chuyển hóa, hành vi lối sống ở nhóm tuổi lao động và người cao tuổi (18 - 69 tuổi) tại một quận đặc trưng cho quá trình đô thị hóa nhanh của Thành phố Hồ Chí Minh.
- Luận án làm sáng tỏ mối liên quan độc lập thông qua mô hình hồi quy đa biến giữa tăng huyết áp với các yếu tố nhân khẩu học (tuổi, giới tính), thể chất (chỉ số BMI, tỷ số vòng bụng/mông), hành vi lối sống (hút thuốc lá, khẩu phần ăn mặn) và các bệnh chuyển hóa kết hợp (đái tháo đường, rối loạn lipid máu) trong bối cảnh cư dân đô thị hiện đại.
- Luận án chứng minh tính đúng đắn của khung lý thuyết can thiệp hai cấu phần: truyền thông thay đổi hành vi diện rộng tại cộng đồng kết hợp củng cố năng lực chẩn đoán, điều trị ngoại trú dùng thuốc theo phác đồ chuẩn của Bộ Y tế ngay tại trạm y tế phường.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách y tế:
- Thử nghiệm thành công mô hình đưa dịch vụ khám bệnh, kê đơn, cấp phát thuốc điều trị tăng huyết áp chi trả qua bảo hiểm y tế về tận trạm y tế phường (thực hiện tại Trạm Y tế phường Linh Xuân). Đây là bằng chứng thực tiễn then chốt giúp ngành y tế địa phương tháo gỡ rào cản "trạm y tế chỉ quản lý người bệnh trên giấy tờ".
- Khẳng định hiệu quả can thiệp rõ rệt: nâng cao tỷ lệ tuân thủ uống thuốc, cải thiện thực hành lối sống lành mạnh (giảm ăn mặn, tăng cường vận động), ổn định các chỉ số sinh hóa máu, hạn chế biến chứng dày thất trái và nâng cao tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu liên tục qua các mốc theo dõi 3, 6, 12 đến 18 tháng.
- Cung cấp quy trình phối hợp chuyên môn chặt chẽ giữa bệnh viện tuyến quận (hỗ trợ chuyên môn tim mạch, tiếp nhận chuyển tuyến khi có biến cố) với trung tâm y tế và trạm y tế phường trong việc theo dõi, cấp thuốc định kỳ cho bệnh nhân ngoại trú.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
- Đối với Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và chính quyền địa phương: Cần phê duyệt cơ chế, bố trí nguồn kinh phí và danh mục thuốc bảo hiểm y tế phù hợp để nhân rộng mô hình quản lý điều trị ngoại trú bệnh nhân tăng huyết áp ra toàn bộ các trạm y tế phường trên địa bàn thành phố Thủ Đức và các quận, huyện khác.
- Đối với Trung tâm Y tế và Bệnh viện thành phố Thủ Đức: Duy trì công tác đào tạo liên tục, tập huấn nâng cao năng lực lâm sàng cho bác sĩ, y sĩ trạm y tế; củng cố hệ thống xét nghiệm, que thử sinh hóa và máy đo điện tim tại trạm; duy trì đường dây hội chẩn chuyên môn tim mạch từ xa.
- Đối với Trạm Y tế xã/phường: Tăng cường phối hợp với mạng lưới cộng tác viên y tế khu phố, lồng ghép truyền thông phòng chống tăng huyết áp vào các buổi sinh hoạt đoàn thể, duy trì quản lý bệnh nhân theo hồ sơ bệnh án ngoại trú và tích cực nhắc nhở bệnh nhân tái khám định kỳ hàng tháng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng chỉ mới tiến hành tại 3 trong tổng số 12 phường của quận Thủ Đức. Dù đã chọn mẫu ngẫu nhiên cụm, tính đại diện cho toàn thể khu vực đô thị Thành phố Hồ Chí Minh vẫn có những giới hạn nhất định.
- Về thiết kế can thiệp điều trị tại trạm y tế: Luận án áp dụng thiết kế thử nghiệm trước - sau trên cùng một nhóm bệnh nhân không có nhóm đối chứng song song tại trạm y tế khác, do điều kiện nguồn lực và các yêu cầu bảo đảm quyền lợi khám chữa bệnh của người dân trên địa bàn.
- Biến động đối tượng nghiên cứu: Tốc độ đô thị hóa nhanh và biến động dân số cơ học tại địa bàn dẫn đến một tỷ lệ nhỏ đối tượng nghiên cứu bị mất dấu sau 18 tháng (4,6% tại phường can thiệp và 5,2% tại phường đối chứng), buộc nhóm nghiên cứu phải sử dụng giải pháp chọn người thay thế tương đồng về tuổi và giới tính.
- Đo lường khẩu phần ăn: Việc đánh giá thói quen ăn mặn và tiêu thụ chất béo chủ yếu dựa vào bảng câu hỏi phỏng vấn thực hành dinh dưỡng, chưa tiến hành định lượng natri bài xuất qua nước tiểu 24 giờ trên toàn bộ mẫu nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Triển khai nghiên cứu đánh giá hiệu quả chi phí - hiệu quả y tế (cost-effectiveness analysis) của mô hình quản lý điều trị tăng huyết áp tại trạm y tế phường so với điều trị ngoại trú tại bệnh viện tuyến trên.
- Mở rộng thời gian theo dõi dọc từ 3 đến 5 năm nhằm đánh giá tác động lâu dài của mô hình lên tỷ lệ giảm biến cố tim mạch nặng (nhồi máu cơ tim, đột quỵ não) và tỷ lệ tử vong chung.
- Ứng dụng công nghệ thông tin, bệnh án điện tử và các ứng dụng di động (mHealth) trong việc quản lý, tự giám sát huyết áp tại nhà và kết nối trực tuyến giữa người bệnh với nhân viên y tế trạm y tế cơ sở.
Giá trị tham khảo
Giá trị đối với các nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Bệnh học nội khoa - Tim mạch: Luận án là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp luận dịch tễ học mô tả kết hợp can thiệp cộng đồng. Cách thức tính toán cỡ mẫu cho các thiết kế nghiên cứu phức tạp (cắt ngang điều tra tỷ lệ, can thiệp cộng đồng lặp lại có đối chứng, can thiệp lâm sàng trước - sau theo dõi dọc) được trình bày chuẩn xác.
- Bác sĩ gia đình, nhân viên y tế tại các trạm y tế xã/phường: Luận án cung cấp cẩm nang thực hành chi tiết về quy trình quản lý ngoại trú bệnh nhân tăng huyết áp tại tuyến ban đầu, từ khâu đo huyết áp đúng chuẩn, phân tầng nguy cơ tim mạch, lựa chọn thuốc đơn trị liệu hoặc phối hợp thuốc hạ áp, theo dõi xét nghiệm sinh hóa định kỳ, đến cách thức tư vấn thay đổi hành vi ăn giảm mặn và tập luyện thể dục.
- Các nhà quản lý y tế và người làm chính sách y tế công cộng: Luận án cung cấp luận cứ thực tiễn tin cậy chứng minh năng lực của trạm y tế xã/phường trong việc quản lý và kiểm soát tốt bệnh không lây nhiễm, phục vụ đắc lực cho việc xây dựng chính sách phân bổ thuốc bảo hiểm y tế và phân cấp quản lý bệnh mạn tính về tuyến y tế cơ sở.
Các phần đáng tham khảo sâu trong văn bản:
- Bảng 1.1 đến Bảng 1.5 (Chương 1) về các ngưỡng chẩn đoán, phân độ huyết áp và sơ đồ phân tầng nguy cơ tim mạch.
- Hình 1.2 (Chương 1) về khung lý thuyết nghiên cứu tương tác giữa các biến số dịch tễ học và quản lý y tế.
- Mục 2.2 và Bảng 2.1 (Chương 2) về kỹ thuật chọn mẫu "cổng liền cổng" và công thức xác định cỡ mẫu can thiệp.
- Hệ thống Bảng 3.10 đến Bảng 3.12 (Chương 3) về kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến xác định các yếu tố nguy cơ tim mạch độc lập.
- Hệ thống Bảng 3.28 đến Bảng 3.42 (Chương 3) về số liệu theo dõi lâm sàng, tỷ lệ tuân thủ điều trị và tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu qua các mốc thời gian 3, 6, 12 và 18 tháng.
Câu hỏi thường gặp
-
Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp ở người 18 - 69 tuổi tại quận Thủ Đức năm 2018 được xác định bằng quy mô mẫu và phương pháp điều tra nào?
Quy mô mẫu điều tra thực trạng gồm 2.203 người trong độ tuổi từ 18 đến 69 sinh sống tại 3 phường được chọn ngẫu nhiên (Linh Xuân: 581 người, Tam Phú: 789 người, Hiệp Bình Chánh: 833 người). Phương pháp chọn mẫu tại thực địa áp dụng kỹ thuật "cổng liền cổng" (door to door) tại hộ gia đình. Tình trạng tăng huyết áp được xác định bằng cách đo huyết áp 3 lần theo đúng quy trình chuẩn của Bộ Y tế bằng máy đo huyết áp đã kiểm định, kết hợp khai thác tiền sử dùng thuốc hạ áp và hồ sơ bệnh án ngoại trú.
-
Luận án đã áp dụng những thiết kế can thiệp nào để đánh giá hiệu quả giải pháp dự phòng và điều trị?
Luận án kết hợp đồng thời hai thiết kế can thiệp trong giai đoạn 2 (kéo dài 18 tháng):
- Thiết kế can thiệp cộng đồng có đối chứng, cắt ngang lặp lại trước và sau can thiệp: Phường Linh Xuân triển khai can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đa kênh (n = 581), so sánh với nhóm đối chứng không can thiệp tại hai phường Tam Phú và Hiệp Bình Chánh (n = 1.622).
- Thiết kế can thiệp trước - sau không có nhóm đối chứng: Tiến hành trên 292 bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 và độ 2 được quản lý, điều trị ngoại trú cấp thuốc bảo hiểm y tế và theo dõi dọc tại Trạm Y tế phường Linh Xuân tại các thời điểm 3, 6, 12 và 18 tháng.
- Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân tham gia can thiệp điều trị tại Trạm Y tế phường Linh Xuân là gì?
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Người từ đủ 18 đến 69 tuổi, được chẩn đoán tăng huyết áp nguyên phát độ 1 hoặc độ 2 theo hướng dẫn của Bộ Y tế (năm 2010), đang điều trị ngoại trú tại các cơ sở y tế hoặc tự điều trị tại nhà, và cam kết đồng ý tham gia theo dõi trong suốt 18 tháng.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân tăng huyết áp thứ phát (do viêm cầu thận mạn, suy thận, hẹp động mạch thận, u tủy thượng thận...); bệnh nhân tăng huyết áp phối hợp bệnh lý tim mạch cấp tính (cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim cấp, tai biến mạch máu não mới); và bệnh nhân mắc các bệnh nội khoa mạn tính nặng (tâm thần, lao phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính).
- Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng nào được sử dụng để theo dõi, đánh giá can thiệp điều trị tại trạm y tế phường?
Nghiên cứu theo dõi chặt chẽ:
- Chỉ số lâm sàng: Trị số huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương trung bình, tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu (<140/90 mmHg hoặc <130/80 mmHg tùy phân tầng nguy cơ), các triệu chứng do tác dụng phụ của thuốc hạ áp, và số ca xảy ra biến chứng tim mạch nặng hoặc tử vong.
- Chỉ số cận lâm sàng: Xét nghiệm sinh hóa máu (glucose máu, nồng độ ure, creatinin huyết thanh, acid uric, lipid máu gồm cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL-C, LDL-C, men gan AST, ALT); xét nghiệm nước tiểu bằng que thử 10 thông số (đánh giá protein niệu, glucose niệu); và đo điện tâm đồ 12 chuyển đạo để tính chỉ số dày thất trái Sokolow-Lyon.
- Việc phân tầng nguy cơ tim mạch và chỉ định phác đồ điều trị trong luận án căn cứ vào những tài liệu chuyên môn nào?
Luận án căn cứ trực tiếp vào Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp ban hành kèm theo Quyết định số 3192/QĐ-BYT (năm 2010) của Bộ Y tế, các khuyến cáo của Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam, kết hợp hướng dẫn phân tầng nguy cơ tim mạch theo JNC VI và phân độ huyết áp theo khuyến cáo ESC/ESH và JNC VII. Việc phân tầng nguy cơ tim mạch (thấp, trung bình, cao, rất cao) được thiết lập dựa trên sự kết hợp giữa mức độ tăng huyết áp với số lượng các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm, hội chứng chuyển hóa, bệnh đái tháo đường, tổn thương cơ quan đích hoặc biến cố tim mạch đã có.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Quốc Cường đã giải quyết trọn vẹn hai mục tiêu nghiên cứu khoa học đề ra, cung cấp bức tranh dịch tễ học chuẩn xác về bệnh tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở nhóm người 18 - 69 tuổi tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018. Công trình đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả can thiệp rõ rệt của mô hình kết hợp truyền thông thay đổi hành vi tại cộng đồng với quản lý điều trị ngoại trú cấp thuốc bảo hiểm y tế tại trạm y tế phường trong suốt 18 tháng theo dõi. Kết quả nghiên cứu là luận cứ thực tiễn có giá trị cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách phân cấp quản lý và điều trị bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở ở các đô thị Việt Nam.