Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về người cao tuổi 1.1 Khái niệm người cao tuổi Tuổi thọ ở mỗi nước có những ước định riêng. Ở một số nước phát triển, người ta định nghĩa người từ 65 tuổi trở lên mới gọi là người cao tuổi do tuổi thọ trung bình trên dưới 70 tuổi và sức khỏe của người dân cũng tốt hơn. Ở Việt Nam, 60 tuổi gọi là hạ thọ, 70 tuổi gọi là trung thọ, tuổi 80 là thượng thọ, tuổi 90 là đại thọ và trên 100 tuổi gọi là quốc lão. Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, tuy nhiên, Liên hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên, trong đó phân ra làm 3 nhóm: sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên) [11], [21].
Người cao tuổi Việt Nam xác định dựa trên tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc đưa ra và cũng được xác lập trong Pháp lệnh người cao tuổi nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: đó là những người từ 60 tuổi trở lên [69].2 Đặc điểm bệnh lý và tâm lý người cao tuổi 1.1 Đặc điểm bệnh lý Có rất nhiều yếu tố góp phần vào việc giảm sức khỏe theo năm tháng ở NCT. Hút thuốc lá là nguy cơ lớn nhất cho bệnh lý ở NCT, tiếp theo là THA. Các nguy cơ khác bao gồm: uống rượu nhiều, ít hoạt động, tăng cholesterol máu, ăn không đủ rau và trái cây. Các yếu tố nguy cơ này không nhất thiết là nguyên nhân gây bệnh nhưng chúng có thể đặt một cá nhân vào nguy cơ mắc bệnh [11], [21].
Trọng lượng cơ thể: những người thừa cân có nguy cơ tử vong và bệnh tật cao hơn nếu bị đái tháo đường týp 2, bệnh mạch vành, bệnh đường hô hấp, 4 một số loại ung thư, bệnh lý bàng quang, loãng xương và các tai biến thiếu máu. Tỷ lệ thừa cân ở người lớn tuổi cao hơn những người trẻ [11], [21]. Tăng cholesterol máu: là yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành và một số tai biến khác. Các axit no trong chế độ ăn là yếu tố chính của việc tăng cholesterol máu [11], [21].
Tăng huyết áp (THA): là nguyên nhân chính gây ra b ệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, suy tim, các bệnh mạch máu ngoại biên, suy thận. Tỷ lệ THA thường gặp ở những người lớn tuổi. Theo nghiên cứu của Viện sức khỏe và trợ cấp xã hội Úc (2002), trên 75% những người trên 75 tuổi bị THA. Nguy cơ này cao hơn đối với những người không chịu vận động cơ thể, thừa cân hoặc có chế độ ăn mặn [11], [21].
Giảm dung nạp glucose máu: thường gặp ở những người thừa cân, ít vận động cơ thể. Giảm dung nạp glucose cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành [11], [21]. Hút thuốc lá: đây là nguy cơ lớn nhất cho các loại bệnh. Hút thuốc lá tăng nguy cơ bị ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, thiếu máu cơ tim và các loại bệnh lý khác [11], [21].
Tiêu thụ các chất có cồn: uống nhiều cồn trong thời gian dài liên quan đến các bệnh về gan, viêm tụy, đái tháo đường, động kinh và một số bệnh ung thư [11], [21]. Ít vận động hoặc không vận động cơ thể: là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh tim mạch và các yếu tố khác như THA, thừa cân. Việc tăng vận động đem lại lợi ích về cơ xương khớp, sức khỏe tinh thần [11], [21].2 Đặc điểm tâm lý Khi về già , do tuổi tác cao, sự thay đổi về sinh lý cộng thêm sự thay đổi về môi trường xã hội, làm cho NCT xuất hiện thêm một số thay đổi tâm lý vốn có, cụ thể biểu hiện ở [11]: 5 - Năng lực cảm nhận thấp làm cho con người cảm thấy già nua. NCT thường do thị giác, thính giác suy giảm, phản ứng chậm chạp, trí lực suy giảm, khả năng nhớ thấp.
Dần dần, cảm thấy cái chết đe dọa, từ đó dẫn đến một laotj phản ứng về tâm lý như phiền muộn, thờ ơ, cô độc… - Sự thay đổi về địa vị và môi trường xung quanh làm cho tinh thần NCT luôn trong trạng thái kích động. NCT sau khi rời khỏi cương vị công tác, lúc đầu thường khó thích nghi, ngồi không chẳng làm gì, tâm trạng sầu muộn, buồn chán. NCT cảm thấy mình là người vô dụng dẫn đến mặc cảm tự ti. Khi điều kiện kinh tế thay đổi, bạn thân qua đời, gia đình mâu thuẫn… làm cho họ dễ sinh ra phản ứng tâm lý không lành mạnh.
Tâm trạng bị kích động kéo dài quá mức làm tổn hại nhiều sự lành mạnh về thể xác và tinh thần. - Lòng tự trọng của NCT bị tổn thương ở mức độ khác nhau do chưa quen sự vật và tình hình mới. Đa số họ có lòng tự tôn mạnh mẽ, họ cho rằng tuổi tác cao, là thế hệ đi trước, từng trãi nhiều, tri thức uyên bác, về lý p hải được tôn trọng nên thường sinh ra độc đoán, chuyên quyền, chỉ có ta là đáng trọng. Nhưng do xã hội ngày càng tiến bộ mà họ vẫn dùng những kinh nghiệm cũ để quan sát sự vật và phát biểu ý kiến nên thường không được mọi người coi trọng, lúc này họ cảm thấy lòng tự tôn bị tổn thương nên thường phản ứng bằng các biểu hiện tâm lý cố chấp, ngang ngược hoặc trầm lặng, tiêu cực.
Các hiện tương tâm lý ở NCT phần lớn thuộc về tâm lý tiêu cực. Vì vậy, NCT phải chú ý giữ gìn, bảo vệ tâm lý, không ngừng khắc p hục những tâm lý tiêu cực, bồi dưỡng tâm lý tích cực, duy trì sự lành mạnh về tâm lý.3 Tình hình người cao tuổi Việt Nam Cùng với xu hướng phát triển chung của thế giới, NCT Việt Nam tăng nhanh về số lượng và tỷ lệ [21].1 Người cao tuổi ở Việt Nam: số lượng và tỷ lệ [33] Số dân Số người trên 60 tuổi Tỷ lệ người trên 60 tuổi Năm (triệu người) (triệu người) (%) 1979 53,74 3,71 6,9 1989 64,41 4,64 7,2 1999 76,32 6,19 8,12 2007 85,1549 8,05 9,45 2020 99,003 11,125 11,24 Theo điều tra Biến động Dân số–KHHGĐ năm 2010, tổng dân số Việt Nam là 86,75 triệu người, trong đó NCT là 8,15 triệu người, chiếm 9,4% dân số. Trong 8,15 triệu NCT có 3,98 triệu người từ 60-69 tuổi (4,51% DS), 2,79 triệu người 70-79 tuổi (3,22% DS), 1,17 triệu người trên 80 tuổi (1,93% DS) và khoảng 9.380 người trên 100 tuổi. Theo nhận định của Tổng cục Dân số – KHHGĐ, Bộ Y tế thì năm 2011 NCT Việt Nam đã đạt trên 10% dân s ố, Việt Nam đã chính thức bước vào quá trình già hóa dân số, đây là một thách thức lớn đối với nền y tế nước nhà [11], [33].2 Bệnh tăng huyết áp ở người cao tuổi 1.1 Định nghĩa bệnh tăng huyết áp Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được gọi là tăng huyết áp (THA) khi HA tối đa, HA tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ huyết áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [33].
Đây không phải tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau. THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạch máu não, rối loạn nhịp tim, bệnh mạch vành.2 Phân loại và phân độ bệnh tăng huyết áp Tăng huyết áp gồm 2 loại là tăng huyết áp nguyên p hát và tăng huy ết áp thứ phát. Tăng huyết áp nguyên phát, hay còn gọi là tăng huyết áp vô căn, là loại tăng huyết áp phổ biến nhất, chiếm đến 90-95% số trường hợp và biến chứng dần theo thời gian. Gọi là nguyên phát hay vô căn vì bác sĩ không th ể xác định nguyên nhân tăng huyết áp một cách cụ thể.
Thay vào đó, nghiên cứu chỉ cho thấy sợi dây liên kết giữa tăng huyết áp nguyên phát với một số yếu tố nguy cơ như tuổi già, di truyền, đái tháo đường và béo phì, hấp thụ quá nhiều muối,…Tăng huyết áp thứ phát chiếm 5-10% số trường hợp được chẩn đoán. Khác với tăng huyết áp nguyên phát, tăng huyết áp thứ p hát luôn xác định được nguyên nhân. Nhiều căn bệnh khác nhau có thể biến chứng thành tăng huyết áp thứ phát[33], [34]. Phân độ THA theo JNC VII: Phân loại tăng huyết áp bình thường khi huyết áp tâm thu <120 mmHg hoặc huyết áp tâm trương <80 mmHg.
Tiền THA khi huyết áp tâm thu 120-139 mmHg hoặc huyêt áp tâm trương 80 -89 mmHg. Tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc ≥ 90 mmHg [33], [34]. Phân độ THA HA (mmHg) Phân độ THA Tâm thu Tâm trương Bình thường < 120 < 80 Tiền THA 120 – 139 80 – 89 THA độ I 140 -159 90 – 99 THA độ II ≥ 160 ≥ 100 (Nguồn: Theo JNC VII, năm 2003) [69]) 8 Bảng 1. Phân độ THA tại Việt Nam HA (mmHg) Phân loại Tâm thu Tâm trương HA tối ưu < 120 < 80 HA bình thường 120 – 129 80 – 84 HA bình thường cao 130 – 139 85 – 89 THA độ 1 (nhẹ) 140 – 159 90 – 99 THA độ 2 (trung bình) 160 – 179 100 – 109 THA độ 3 (nặng) ≥ 180 ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 < 90 (Nguồn: Hội tim mạch Việt Nam, năm 2007) [34] Nếu HATT và HATTr ở hai phân độ khác nhau tính theo trị số HA lớn hơn.3 Nguyên nhân tăng huyết áp Trong THA có khoảng 05 – 10% trường hợp là tìm được nguyên nhân còn 90- 95% là không tìm được nguyên nhân gây bệnh có tác giả cho là có tới 95% không rõ nguyên nhân, hay còn gọi là THA nguyên phát [11].
Nếu THA có nguyên nhân thì dấu hiệu THA chỉ là triệu chứng, khi điều trị bệnh chính khỏi thì HA tự nhiên sẽ ổn định hoặc khỏi hẳn. Vì vậy người ta còn gọi THA triệu chứng hay là THA thứ phát, vì nó xuất hiện sau khi có bệnh thận (Viêm thận mãn, hẹp động mạch thận…. Một số bệnh nội tiết (u tủy thượng thận, u tuyến yên), tăng aldosterone nguyên phát, bệnh tuyến giáp hay cận giáp, một số thuốc (corticoid, thuốc ngừa thai…).4 Biến chứng tăng huyết áp Bệnh tăng huyết áp, không chữa trị làm hại cơ thể ta nhiều cách. Huyết áp cao hơn bình thường khiến tim và các mạch máu phải làm việc nhiều hơn.