Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lịch sử nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp Năm 1771, R.S hales là người đầu tiên dùng một cột nước bên trong có một hòn bi được nối với động mạch để đo huyết áp động mạch. Sau 170 năm, Jeam Poisenlle, một sinh viên Y khoa đã tự tạo dung cụ bằng một cột thủy ngân để đo HA và đặt tên là Hemodynamomete. Đến năm 1836, Birght đã mô tả về một bệnh có động mạch đập nẩy căng kèm theo có phì đại thất trái và proteine niệu, ông gọi là bệnh Bight.traube là người đầu tiên mô tả THA có xơ vữa động mạch. Năm 1867 Sandeson đã theo dõi HA ban đêm để chẩn đoán THA.
Năm 1874 Mahomed đã chẩn đoán được THA sớm khi chưa có protein niệu, năm 1895 Riva Rocci giới thiệu phương pháp đo HA và giao động, động mạch ở bệnh nhân tắc động mạch cánh tay.Menendez chứng minh được vai trò của renin là một men xúc tác, chuyển α2- globulin ở gan thành angiotensin đóng một vai trò quan trọng trong bệnh sinh của THA và phân chia THA làm 2 nhóm: THA vô căn và THA thứ phát [51]. THA là yếu tố nguy cơ cao của bệnh tim mạch ở các nước công nghiệp và ngay tại nước ta, THA đang trở thành một vấn đề sức khỏe trên toàn cầu, do sự gia tăng tuổi thọ và tăng tần suất các yếu tố nguy cơ [52]. THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong 7,1 triệu người và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64 triệu người sống trong tàn phế) [48].2 Định nghĩa tăng huyết áp Huyết áp là áp lực mạch máu ép lên thành động mạch. Huyết áp của một người được biểu thị bằng 2 con số là huyết áp tâm thu ( số cao) và huyết áp tâm trương ( số thấp) [71].
Theo WHO và hiệp hội THA, Quốc tế (ISH). - HA bình thường nếu HA động mạch tối đa (hay còn gọi HATT) <140 mmHg và HA động mạch tối thiểu (hay còn gọi là HATTr ) < 90 mmHg. - THA nếu HA ĐM tối đa hay còn gọi là HATT ≥ 140 mmHg và HA ĐM tối thiểu hay còn gọi là HATTr ≥ 90 mmHg. HA ĐM không cố định mà THA đổi trong ngày (thường ban đêm thấp hơn ban ngày), theo tuổi ( người già cao hơn người trẻ), theo giới (nữ thấp hơn nam).
Chỉ số HA không đánh giá được hoàn toàn mức độ nặng nhẹ của bệnh (hai người có cùng một chỉ số HA, nhưng có hiện tượng bệnh khác nhau [2]. - Một số định nghĩa về THA: + THA tâm thu đơn độc: Đối với người lớn, HATT có xu hướng tăng và HATTr có xu hướng giảm. Khi trị số HATT > 140mmHg và HATTr < 90 mmHg, được gọi là THA tâm thu đơn độc. Độ chênh HA (tâm thu- tâm trương) và HATT dự báo nguy cơ và quyết định điều trị.
+ Tăng HATTr đơn độc: Thường xảy ra ở người tuổi trung niên, THA tâm trương khi HATT < 140mmHg và HATTr >90 mmHg. + THA áo choàng trắng: - Một số bệnh nhân HA thường xuyên tăng tại Bệnh viện hoặc tại phòng khám bác sĩ trong khi huyết áp hằng ngày hoặc đo 24 giờ lại bình thường, tình trạng này gọi là THA áo choàng trắng. 5 - Tỷ lệ hiện mắc THA áo choàng trắng là 10-30%. Tăng HA áo choàng trắng có thể là khởi đầu của THA thật sự và có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch.
- Chẩn đoán: HA phòng khám ≥ 140/90 mmHg sau nhiều lần đi khám và Huyết áp 24 giờ < 125/80 mmHg. + Tăng HA ẩn dấu: Thường ít gặp hơn THA áo choàng trắng nhưng khó phát hiện hơn, đó là tình trạng trái ngược: HA bình thường tại phòng khám và THA ở nơi khác. Những bệnh nhân này có tổn thương cơ quan đích nhiều hơn và nguy cơ cao hơn những đối tượng HA luôn bình thường. + Tăng HA giả tạo: Trong một số lượng nhỏ bệnh nhân lớn tuổi, các động mạch ngoại biên trở nên cứng nên băng quấn phải có áp lực cao hơn để nén lại, động mạch quay vẫn bắt được dù băng quấn đã được bom căng.
Khi nghi ngờ THA giả tạo phải đo HA nội động mạch quay để xác định chẩn đoán.3 Phân loại tăng huyết áp Trong THA có thể chia ra [17], [68], [69] - THA thường xuyên: có thể phân biệt thành THA lành tính, THA ác tính. - Cơn THA: Trên cơ sở HA bình thường hoặc gần bình thường, có những cơn tăng vọt, vào những cơn này thường có tai biến. - THA Giao động: Con số HA có thể có lúc tăng giảm. Theo WHO khuyên rằng không nên sử dụng danh từ này và nên xếp vào loại THA giới hạn, vì cho rằng tất cả các loại THA đều ít nhiều “dao động”.
- THA nguyên phát: Trường hợp THA mà không tìm thấy nguyên nhân, được gọi là bệnh THA nguyên phát vô căn. Thường gặp ở người lớn, chiếm 90 – 95% tổng số các đối tượng có THA. 6 - THA thứ phát: Trường hợp THA tìm thấy nguyên nhân, còn gọi là THA triệu chứng. Chiếm khoảng 5% tổng số các đối tượng có THA.1 Phân độ HA theo JNC VI (1997) [57], [67] Khái niệm HA tâm thu (mmHg ) HA tâm trương HA tối ưu < 120 và < 80 HA bình thường < 130 và < 85 Bình thường cao 130 – 139 hoặc 85 - 89 THA Giai đoạn 1 140 – 159 và/ hoặc 90 – 99 Giai đoạn 2 160 – 179 và/ hoặc 100- 109 Giai đoạn 3 ≥ 180 và/ hoặc ≥ 110 Bảng 1.2 Phân loại THA theo JNC VII [71] Phân loại HA HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg) Bình thường < 120 < 80 Tiền THA 120 - 139 80 – 89 THA gđ I 140 - 159 90 – 99 THA gđ II ≥ 160 ≥ 100 1.4 Nguyên nhân tăng huyết áp Trong THA có khoảng 05 – 10% trường hợp là tìm được nguyên nhân còn 90- 95% là không tìm được nguyên nhân gây bệnh có tác giả cho là có tới 95% không rõ nguyên nhân, hay còn gọi là THA nguyên phát [70], [74], [75].
Nếu THA có nguyên nhân thì dấu hiệu THA chỉ là triệu chứng, khi điều trị bệnh chính khỏi thì HA tự nhiên sẽ ổn định hoặc khỏi hẳn. Vì vậy người ta còn gọi THA triệu chứng hay là THA thứ phát, vì nó xuất 7 hiện sau khi có bệnh thận (Viêm thận mãn, hẹp động mạch thận. Một số bệnh nội tiết (u tủy thượng thận, u tuyến yên), tăng aldosterone nguyên phát, bệnh tuyến giáp hay cận giáp, một số thuốc (corticoid, thuốc ngừa thai…).5 Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp nguyên phát Trong hơn 30 năm gần đây các nhà sinh lý và lâm sàng tim mạch đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để giải thích cơ chế bệnh sinh của THA. Dưới đây một số vấn đề về cơ chế đã được công nhận trong bệnh sinh của THA.1 Tăng hoạt động thần kinh giao cảm Khi tăng hoạt tính hệ thần kinh giao cảm, sẽ làm tăng hoạt động của tim, dẫn đến tăng tần số tim và cung lượng tim.
Đồng thời sẽ gây phản ra phản xạ co thắt toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến hậu quả là THA động mạch [63], [66].2 Vai trò của hệ Renin - Angiotensin – Aldosterol (RAA) Renin là một enzym do các tế bào tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có các yếu tố kích thích: Các tế bào cơ trơn trên thành mao mạch đến của tiểu cầu thận chịu trách nhiệm nhận cảm áp lực của động mạch tiểu cầu thận , kích thích các tế bào cạnh tiểu cầu thận tiết ra Renin để điều hòa HA, duy trì áp lực lọc ở tiểu cầu thận [58]. Yếu tố kích thích tiết Renin là nồng độ muối trong huyết tương và kích thích thụ cảm thể Adrenergic, khi Renin được tiết ra, sẽ chuyển α2 Globulin (được tổng từ gan) với tên gọi là Angiotensinogen (có 14 acid amin) thành Angiotensin I (là peptit có 10 Acid amin) tuần hoàn trong máu lên tuần hoàn phổi, tại phổi tách khỏi chất vận chuyển rồi cắt đi 2 acid amin 8 nhờ hệ enzym chuyển ở phổi còn lại 8 acid amin được gọi là Angiotensin II, Angiotensin II có khả năng: - Kích thích võ thượng thận tăng tiết Aldosterol gây tăng giữ nước và muối. - Gây co mạch gấp 100 – 200 lần so với Adrenalin. Sau đó Angiotensin II bị enzym Angiotensinase phá hủy để tạo thành một số hoạt chất trung gian (Angiotensin III).
Từ những biểu hiện trên ta thấy Angiotensin II lưu hành trong hệ thống tuần hoàn và có tác dụng rộng khắp toàn bộ hệ thống mạch vành và tăng thể tích dịch lưu hành là cơ sở của THA động mạch [48], [56].3 Vai trò của Natri trong cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp Vai trò của Natri trong cơ chế bệnh sinh của THA tiên phát được giải thích như sau: Một chế độ ăn nhiều Natri (Thức ăn có 2% muối, nước uống có 1% muối), ở những người ăn nhiều Natri khả năng lọc của thận tăng và cũng tăng tái hấp thu nước, làm thể tích máu tăng. Màng tế bào có sự thẩm thấu di truyền đối với Natri, ion Na ứ đọng nhiều trong các sợi cơ trơn ở thành các tiểu động mạch còn làm tăng độ thấm của Calci qua các màng tế bào, dẫn đến tăng khả năng làm co các mạch máu, tăng sức cản ngoại vị gây THA [71].4 Giảm chất điều hòa huyết áp Prostaglandin E2 và Kallikrein ở thận có chức năng sinh lý điều hòa HA, hạ Calci máu, tăng calci niệu. Khi các chất này thiếu hoặc bị ức chế sẽ gây THA.5 Thay đổi chức năng của thụ cảm thể áp lực Thụ cảm thể áp lực ở xoang động mạch cảnh thông qua vòng phản xạ thần kinh điều hòa HA, khi thay đổi chức năng của thụ cảm thể áp lực xoang động mạch cảnh, vòng phản xạ luôn được duy trì gây THA.6 Qua trình tự vữa xơ Qua trình tự vữa xơ, làm giảm độ đàn hồi của thành động mạch lớn gây THA, thường gặp ở người già có HATT cao trong khi HATTr vẫn ở mức bình thường [65].6 Những yếu tố nguy cơ tăng huyết áp Có nhiều yếu tố đe dọa trong THA. Những yếu tố này làm cho bệnh nhân nặng thêm hoặc bệnh dễ xuất hiện hơn.1 Tuổi - Tuổi càng tăng thì tỉ lệ THA càng cao, đặc biệt là lứa tuổi trên 55 [5] - Nữ giới tuổi tiền mản kinh và lứa tuổi 55 – 60 có quá trình lão quá, động mạch giảm đàn hồi rơi vào trạng thái động mạch xơ cứng gây bệnh cảnh THA đặc biệt gọi là “bệnh THA đàn hồi” HATT cao mà HATTr lại thấp [53], [76], [78].