Nghiên cứu bào chế và đánh giá độ hoà tan viên nang cứng Silymarin (2025)

Khóa luận phân tích các phương pháp bào chế viên nang cứng Silymarin. Đánh giá và tìm giải pháp tối ưu nhằm cải thiện độ hoà tan của dược chất.

Chuyên ngành

Hoá Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

53
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Silymarin và Thách thức Độ Hoà Tan

Silymarin là một hoạt chất thực vật quý giá từ cây Atisô gai, được biết đến với những công dụng bảo vệ gan xuất sắc. Tuy nhiên, Silymarin có độ hoà tan nước kém, giới hạn sinh khả dụng và hiệu quả điều trị. Việc tìm các phương pháp tăng độ hoà tan của viên nang cứng Silymarin là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong dược học hiện đại. Các nhà khoa học đang nỗ lực phát triển công nghệ phù hợp để cải thiện tính chất dược học của chất này.

1.1. Đặc điểm và Tính Chất của Silymarin

Silymarin là một phức hợp flavolignan, bao gồm các thành phần như silybin, silydianin và silychristin. Cấu trúc phân tử phức tạp khiến nó có độ hoà tan thấp trong nước và các dung môi cơ bản. Điều này gây khó khăn trong quá trình hấp thụ tại đường tiêu hóa, ảnh hưởng đến hiệu quả sinh học.

II. Các Phương Pháp Tăng Độ Hoà Tan Silymarin

Các nhà nghiên cứu đã phát triển nhiều kỹ thuật tiên tiến để cải thiện độ hoà tan của Silymarin. Từ công nghệ nano, phức hợp hoà tan, cho đến các chất tá dược đặc biệt, mỗi phương pháp mang lại những lợi ích riêng. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp phụ thuộc vào mục tiêu sản xuất, chi phí và yêu cầu về chất lượng cuối cùng.

2.1. Công Nghệ Nano và Nanocrystal

Công nghệ nanocrystal giảm kích thước hạt Silymarin xuống mức nano, tăng diện tích bề mặt và độ hoà tan. Phương pháp này giúp cải thiện sinh khả dụng lên 2-3 lần. Các kỹ thuật như ball milling và wet media milling được sử dụng rộng rãi để tạo ra các nanocrystal ổn định.

2.2. Phức Hợp Hoà Tan và Chất Mang

Sử dụng các chất mang như cyclodextrin, lecithin hoặc polyethylene glycol (PEG) để tạo phức hợp hoà tan. Các phức hợp này cải thiện độ hoà tan đáng kể và bảo vệ Silymarin khỏi phân hủy. Liposome và phiến lipid cũng được ứng dụng để tăng hấp thụ.

III. Kết Quả và Hiệu Quả của Các Nghiên Cứu

Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy những tiến bộ đáng kể trong việc tăng độ hoà tan Silymarin. Sinh khả dụng của Silymarin qua các công nghệ mới đã được cải thiện so với viên nang truyền thống. Những thử nghiệm in vitro và in vivo đều chỉ ra sự tăng cường đáng kể trong tính hiệu quả của các sản phẩm mới.

3.1. Dữ Liệu Sinh Khả Dụng

Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy viên nang cứng Silymarin được cải thiện có sinh khả dụng tăng từ 40-50% so với sản phẩm gốc. Nồng độ Silymarin trong huyết tương đạt cao hơn, duy trì lâu hơn, mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn cho bệnh nhân.

IV. Triển Vọng và Ứng Dụng Thương Mại

Ngành dược phẩm đang chú trọng phát triển các sản phẩm Silymarin với độ hoà tan tối ưu. Các công nghệ này mở ra cơ hội lớn cho việc sản xuất thuốc chất lượng cao, hiệu quả hơn. Tương lai sẽ thấy nhiều sản phẩm Silymarin cải tiến ra thị trường, mang lại lợi ích cho người sử dụng.

4.1. Tiềm Năng Phát Triển Sản Phẩm

Các công ty dược phẩm đang đầu tư vào nghiên cứu và phát triển Silymarin với công nghệ mới. Những sản phẩm này được kỳ vọng sẽ chiếm thị phần lớn trong lĩnh vực bảo vệ gan. Tính khả thi về mặt kinh tế và hiệu quả điều trị làm cho các phương pháp này trở thành lựa chọn ưu tiên.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Tổng quan về silymarin 1. Công thức cấu tạo, tính chất lý hóa 1. Công thức cấu tạo Silymarin là một hỗn hợp gồm các thành phần: Silybin (A, B), taxifolin, isosilybin (A, B), silychristin A và silydianin.

Trong đó, silybin là thành phần chính có tác dụng sinh học [2]. Công thức cấu tạo của silybin được thể hiện ở hình 1. Công thức cấu tạo của silybin Tên khoa học: (2R,3R)-3,5,7-trihydroxy-2-[(2R,3R)-3-(4-hydroxy-3-methoxyphenyl)- 2-(hydroxymethyl)-2,3-dihydro-1,4-benzodioxin-6-yl]-2,3-dihydrochromen-4-one [3]. Công thức phân tử: C25H22O10, khối lượng phân tử 482,44 g/mol [3].

Tính chất lý hóa Cảm quan: là chất bột đồng nhất màu vàng đến nâu, vị hơi đắng, có mùi thơm nhẹ. Độ tan: Rất khó tan trong nước (độ tan 0,04 mg/ml) , tan tốt trong một số dung môi hữu cơ như ethyl acetat, ethanol [4]. Trong dung dịch nước trung tính, silybin hoạt động như một acid yếu với pKa ở nhóm 5 - OH, 7 - OH và 20 - OH lần lượt là 6. Silybin khá bền với phản ứng khử, nhưng dễ bị oxy hoá thành 2,3- dehydrosilybin.

Các base mạnh hoặc đun nóng kéo dài trên 100°C có thể gây ra sự phá vỡ khung cấu trúc của phân tử này [2]. Cơ chế tác dụng Cơ chế tác dụng của SLM trên gan bao gồm: Dọn các gốc tự do và làm tăng nồng độ glutathione dạng khử (GSH) trong tế bảo giúp chống lại quá trình peroxy hoá 2 lipid, thay đổi cấu trúc màng tế bào gan làm ổn định màng và chống lại sự xâm nhập của các chất độc ngoại sinh vào tế bào gan, điều hoà biểu hiện trên nhân do có cấu trúc tương tự steroid, ức chế các tế bào hình sao ở gan sản sinh ra mô sợi giúp ức chế hình thành bệnh lý xơ gan, tăng tổng hợp protein của ribosome bằng cách kích thích ARN polymerase I và tARN giúp tăng khả năng tái tạo tế bào gan [5]. Chỉ định Điều trị viêm gan cấp và mạn tính, suy gan, gan nhiễm mỡ. Bảo vệ tế bào gan và phục hồi chức năng gan cho những người uống rượu, bia, bị ngộ độc thực phẩm, hóa chất, những người đang sử dụng các thuốc có hại tới tế bào gan như thuốc điều trị bệnh lao, ung thư, đái tháo đường, các thuốc tác động đến thần kinh , thuốc chống viêm không steroid,… những người có rối loạn chức năng gan với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, ăn khó tiêu, vàng da, dị ứng, bí tiểu tiện, táo bón… 1.

Một số chế phẩm có chứa silymarin trên thị trường Thuốc: Viên nang Legalon 70 mg (Rottapharm Madaus), viên nang Nutrigan 70 mg (Roussel Vietnam), viên nang Silymax F 140 mg (Mediplantex), viên nén bao phim Liverstad 70 mg (Stada-VN)… Thực phẩm chức năng: Viên nang Vital Beautie Liver Prime 600 mg… 1. Đặc điểm dược động học của silymarin Silybin là hợp chất chính và cũng được coi là hoạt chất trong hầu hết các mô hình. Do đó, các thông số dược động học của silymarin luôn được đề cập và chuẩn hoá theo silybin [6]. Silybin dùng đường uống được hấp thu nhanh chóng với nồng độ cực đại đạt được trong huyết tương là Tmax (2-4 giờ) và t1/2 (6 giờ).

Tuy nhiên, chỉ có 20-50% silymarin uống được hấp thu từ đường tiêu hoá [4]. Silybin nhanh chóng và dễ dàng phân bố vào mật, tạo nồng độ cao gấp 100 lần so với trong máu. Có khoảng 70,3 ± 4,6% silybin liên kết với protein huyết tương chuột, trong khi sự hấp thu vào tế bào máu đều dưới 3% [7]. Các phản ứng chuyển hoá silybin tại pha I đóng vai trò không đáng kể, trái ngược với các phản ứng của pha II, rất rộng rãi và chiếm ưu thế, bởi các phản ứng liên hợp với sulfate, glucuronic tại gan.

Sau đó, silybin dạng tự do và liên hợp được thải trừ chủ yếu qua đường mật [8]. Silybin có SKD đường uống kém do các nguyên nhân: Bị chuyển hoá pha II mạnh, thấm kém qua tế bào biểu mô ruột, độ tan trong nước thấp và bị thải trừ nhanh chóng. Nghiên cứu trên chuột cho thấy SKD tuyệt đối của silybin chỉ khoảng 0,95% [4]. Con đường dược động học của silymarin [8] 1.

Liều dùng Các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trước đây cho thấy SLM an toàn và có hiệu quả ở mức liều 1200-1500mg SLM/ngày. Liều thông thường cho người lớn là 240-800mg SLM/ngày, ngày chia 2-3 lần [4]. Một số nghiên cứu cải thiện độ hoà tan của silymarin. Một trong những nguyên nhân khiến hiệu quả điều trị của SLM thấp do gặp phải vấn đề độ hoà tan thấp.

Vì lý do này mà liều của SLM thường cao thì mới có thể đạt được nồng độ điều trị trong huyết tương. Trên thế giới, nhiều nhóm nghiên cứu đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề cải thiện độ hoà tan của SLM và đã đạt được một số thành công nhất định. Dưới đây là một số phương pháp đã được sử dụng để giải quyết vấn đề độ hoà tan thấp của SLM được ứng dụng gần đây trên thế giới. Nghiên cứu bào chế vi cầu bằng phương pháp phun đông tụ (Spray congealing) Tạo vi cầu bằng phương pháp phun đông tụ là kỹ thuật tạo vi hạt rắn bằng cách phun dung dịch nóng chảy chứa dược chất vào môi trường lạnh, khiến các giọt dung dịch nhanh chóng đông lại thành các vi cầu rắn.

Phương pháp này không sử dụng dung môi và thường được áp dụng để cải thiện độ ổn định, kiểm soát giải phóng dược chất và che giấu mùi vị [9]. Năm 2011, Passerini và cộng sự đã nghiên cứu thành công vi hạt chứa silymarin bằng cách nghiền SLM và natri carboxymethylcellulose liên kết chéo trong máy nghiền năng lượng cao. Sau đó, các vị hạt được xử lý bằng kỹ thuật phun động tụ, sử dụng Gelucire 50/13 làm chất mang. Kết quả đánh giá độ hoà tan cho thấy, vi hạt được nghiên cứu có khả năng giải phóng cao gấp gần 10 lần so với dạng nguyên liệu SLM chuẩn.

Khi đánh giá dược động học trên chuột, Cmax và AUC của DC của hệ vi hạt lần 4 lượt là 32,2 ± 3,3 (ng/ml) và 47,0 ±2,9 (ng h/ml), cao hơn lần lượt 53 lần và 47 lần so với nguyên liệu SLM chuẩn (0,61±0,11 ng/ml và 1 ng h/ml) sau khi đạt Tmax ở 0,5h [10]. Tạo polymer micelle Polymer micelle là những tiểu phân nano gồm các chuỗi polymer và đồng polymer. Chúng bao bọc các phân tử DC bên trong và làm tăng vận chuyển DC do khả năng hoà tan hiệu quả các phân tử thuốc kỵ nước để chống lại sự phá huỷ sinh lý hoặc bất hoạt trong đường tiểu hoá [11] [4]. Những micelle này có thể tồn tại được trong hệ lưới nội mô do những polymer này không độc, tương hợp sinh học và không nhạy cảm với hệ miễn dịch.

Điều này giúp kéo dài thời gian lưu và cải thiện SKD của DC [4]. Năm 2017, Yin và cộng sự đã nghiên cứu về hệ micelle N-octyl-O, N- carboxymethyl chitosan chứa silybin (OCC-SLB) nhằm tăng cường hiệu quả hấp thu qua đường uống cũng như tăng cường tính thấm dược chất. Kết quả phép thử in vitro với dịch vị dạ dày nhân tạo (SGF, pH 1.2) cho thấy hệ OCC-SLB đạt độ hoà tan 23,8%, cao hơn so với silybin hỗn dịch (10,2%). Thử nghiệm dược động học trên chuột với liều 9.1mg/kg cũng cho thấy hệ OCC-SLB có SKD cao gấp 3 lần so với nguyên liệu silybin.

Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra hệ OCC-SLB có thể tăng cường tính thấm SLB thông qua mở liên kết chặt và chuyển tế bào trung gian clathrin qua nội qua trong khi silybin dạng hỗn dịch không thể hiện chức năng này [12]. Tạo phức hợp với polysaccharide dạng vô định hình. Các nghiên cứu kết hợp polysaccharide với dược chất được đánh giá cao trong việc đem lại hiệu quả trong điều trị do các chất mang này an toàn, dễ bị phân huỷ sinh học. Trên hết, các polysaccharide có khả năng thay đổi các tính chất lý hoá của DC nhờ các nhóm chức như hydroxyl (-OH), amino (-NH2) hoặc carboxyl (-COOH), từ đó tăng độ ổn định, khả năng hoà tan cũng như SKD [13].

Năm 2016, Minh và cộng sự đã nghiên cứu phức hợp nano chitosan – silybin siêu bão hoà vô định hình (hay gọi tắt là nanoplex silybin) nhằm mục đích cải thiện độ hoà tan cũng như tăng tỷ trọng tải DC (76 ±3%). Kết quả thử in vitro thu được đạt trên 80% sau 1 giờ tại dịch ruột mô phỏng (SIJ) với pH 6. Ngoài ra, sử dụng chitosan làm chất mang đã được chứng minh khả năng cải thiện hấp thụ thuốc ở ruột do sự mở liên kết chặt chẽ biểu mô do chitosan làm trung gian [15] [16]. Arcari đã nghiên cứu bào chế phức lồng của silybin với HP - β – CD.

Khả năng giải phóng của silybin trong phức này đã tăng lên đáng kể khi đạt 95% sau 5 phút, so sánh với nguyên liệu silybin (dưới 5%). Kết quả in vivo trên chuột cũng cho thấy nồng độ của silybin trong mật ở hệ phức hợp cao hơn 20 lần so với nguyên liệu silybin [17]. Tạo hệ phytosome – hỗn dịch nano cho phức hợp silymarin – phospholipid. Phytosome là phức hợp giữa DC tự nhiên với phospholipid tự nhiên được tạo ra thông qua tương tác tĩnh điện, chẳng hạn như phospholipid đậu nành [18].

Công nghệ này có thể tạo điều kiện cho quá trình hấp thu DC và làm cho phytosome hoà tan thấm qua tế bào biểu mô ruột dễ dàng hơn [19]. Tuy nhiên, phức hợp phytosome có nhược điểm là độ hoà tan và khả năng phân tán trong nước kém [20]. Từ những đặc điểm trên, năm 2020, Cheng và cộng sự đã tiến hành áp dụng công nghệ bào chế hỗn dịch nano với mục địch cải thiện tốc độ hoà tan hạn chế của phức hợp phospholipid – silybin (PSC). Kết quả thử in vitro thu được hệ phytosome silybin – hỗn dịch nano (PSC – NS) giải phóng 80% lượng DC sau 60 phút ở pH 6.8, cao hơn so với phức hợp PSC (39%) và nguyên liệu silybin chuẩn (6- 8%).

Kết quả thử in vivo trên chuột cũng cho thấy sự tương quan với kết quả thử độ hoà tan in vitro. Sau khi dùng đường uống, nồng độ DC trong huyết tương ở hệ PSC- NS cao gấp 10 lần so với nhóm uống silybin [19]. Hệ tự nhũ hoá tạo vi nhũ tương (Hệ tự vi nhũ hoá). Hệ tự vi nhũ hoá (SMEDDS) là hỗn hợp gồm DC, dầu, chất diện hoạt và chất đồng diện hoạt, tạo thành nhũ tương siêu nhỏ dầu trong nước (D/N) với kích thước hạt nhỏ hơn 100nm khi tiếp xúc với sự xáo trộn nhẹ khi được pha loãng bằng nước hoặc các điều kiện lưu động trong đường tiêu hoá [21] [22].

Dạng bào chế này làm tăng độ hoà tan cũng như SKD bằng cách hình thành các nhũ tương với kích thước giọt nhỏ, tạo ra diện tích bề mặt lớn để giải phóng và hấp thu thuốc [23].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ