MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài: Exopolysaccharid (EPS) đƣợc phân lập từ vi sinh vật đặc biệt từ vi khuẩn Lactobacillus fermentum (LAB) có rất nhiều ứng dụng quan trọng. Nhiều ứng dụng thực tế đã đƣợc rõ tác dụng chống ung thƣ, điều hòa miễn dịch và kháng khuẩn nhƣ ức chế tế bào ung thƣ biểu mô (dòng SiHa) và kích thích sản xuất Il-6 và TNF- α bởi dòng đại thực bào THP-1. Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng tính kháng khuẩn cũng chỉ ra đặc tính khử trùng tốt của các exopolysaccharid đƣợc nghiên cứu chống lại S. Một số ứng dụng hoạt tính sinh học đƣợc mô tả có tác dụng hạ cholesterol máu.
Việc thu nhận, tạo chế phẩm từ EPS đáp ứng nhu cầu sử dụng gia tăng các polymer tự nhiên ứng dụng trong công nghệ thực phẩm và công nghệ mỹ phẩm, EPS đóng vai trò là tác nhân làm đặc, ổn định kết cấu, nhũ hóa, tạo gel. Những hoạt tính sinh học khác nhau liên quan đến EPS nhƣ khả năng chống oxy hóa, chống ung thƣ, làm giảm cholesterol, hoạt động probiotic cũng đƣợc nghiên cứu. Do đặc điểm đa dạng trong cấu trúc cũng nhƣ sự an toàn đối với sức khỏe con ngƣời thì vi khuẩn lactic lactic (LAB) đƣợc "công nhận là vi sinh vật an toàn" (GRAS-Generally Recognized As Safe). Vì vậy các chủng LAB đƣợc quan tâm nhiều để lên men sinh tổng hợp EPS và đồng thời chủng này có lợi thế hơn với EPS từ các loài khác (Vivek và cộng sự, 2016).
Bên cạnh nhiều đóng góp quan trọng trong công nghiệp và trong y học đã đƣợc ghi nhận, EPS từ vi khuẩn vẫn tồn tại một nhƣợc điểm là năng suất thu nhận thấp là lý do chính khiến khả năng thƣơng mại hóa của EPS từ vi khuẩn nói chung và từ vi khuẩn lactic (LAB-Lactic Acid Bacteria) nói riêng. Nhiều vi khuẩn có thể tổng hợp các polysaccharide (PS) ngoại bào và tiết ra bên ngoài môi 1 trƣờng. Các PS tách chiết đƣợc có sự đa dạng về cấu trúc và tính chất, chức năng (Zhou và Li, 2015). Việc nghiên cứu, lên men tăng hiệu suất sinh tổng hợp EPS và cải thiện quá trình thu nhận, tách chiết EPS đƣợc coi là điểm mấu chốt để sản xuất EPS nhằm ứng dụng trong lĩnh vực thực phẩm, y học.
Để nâng cao hiệu quả thu nhận EPS từ lên men, đến thu nhận, tách chiết EPS sinh tổng hợp từ một chủng LAB là chủng Lactobacillus fermentum BR11, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tách chiết và thu nhận exopolysaccharide sinh tổng hợp bởi Lactobacillus fermentum”. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đƣợc các điều kiện lên men thích hợp và xây dựng đƣợc quy trình thu nhận và tách chiết exopolyschacaride tạo ra từ chủng Lactobacillus fermentum BR11. Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu các điều kiện thích hợp lên men thu nhận EPS từ chủng Lactobacillus fermentum. Xây dựng quy trình tách và thu nhận EPS.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2020 đến tháng 11/2021. Địa điểm nghiên cứu: Đề tài đƣợc thực hiện tại Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử của Khoa Công nghệ sinh học, Trƣờng Đại học Mở Hà Nội tại Nhà C, 301 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về Lactobacilus fermentum Lactobacillus fermentum là chủng vi khuẩn Gram dƣơng thuộc chi Lactobacillus, thƣờng đƣợc tìm thấy trong lên men từ động vật hoặc thực vật (Ramchandran cs, 2009, Amjres và cs. Lactobacillus fermentum là những vi khuẩn ƣa ẩm, có nhu cầu dinh dƣỡng phức tạp, lên men dị hình và có thể lên men đƣờng nhƣ glucose (glc), fructose (fruc), maltose, sucrose, lactose.
Lactobacillus fermentum (LAB) là vi khuẩn Gram (+), là vi khuẩn đƣờng ruột lên men hữu ích thuộc chi Lactobacillus, thƣờng có mặt trong hệ tiêu hoá của ngƣời và động vật. Một số chủng Lactobacillus đƣợc coi là vi khuẩn có lợi hoặc vi khuẩn thân thiện ở động vật. Chủng đã đƣợc "công nhận là vi sinh vật an toàn" theo đánh giá cục dƣợc của Mỹ (GRAS-Generally Recognized As Safe) (hình 1. Vi khuẩn lactic có dạng lƣỡng cầu, tứ cầu, liên cầu hoặc hình que, đứng đơn độc hoặc thành chuỗi.
Chúng có nhu cầu dinh dƣỡng cao và khả năng sinh tổng hợp thuộc dạng yếu. Hầu hết các vi sinh vật sinh axít lactic đều thuộc họ Lactobacillaceae và đƣợc xếp vào 4 chi: Streptoccocus, Pediococcus, Lactobacillus và Leuconostoc. Vi khuẩn Lactobacillus sinh axít lactic và các cơ chất khác nhau tạo môi trƣờng bất lợi cho vi khuẩn gây thối phát triển trong đƣờng tiêu hoá. Những vi khuẩn gây thối rữa ở ruột kết (ruột già, đại tràng) tạo ra các enzyme beta-glucuronidase, azoreductase và nitroreductase, thúc đẩy sự xuất hiện của carcinogen (chất có vai trò trong việc hình thành và phát triển khối u) bằng các ức chế cạnh tranh và tạo môi trƣờng axít không thuận lợi.
Ngƣợc lại, vi khuẩn Lactobacillus kìm hãm sự trao đổi chất của vi khuẩn trong ruột kết dẫn tới làm giảm sự hình thành carcinogen gây ung thƣ đại tràng. fermentum có thể tạo thành các khuẩn lạc màu trắng xám với đƣờng kính khoảng 1μm (Hình 1. Hình dạng khuẩn lạc có thể lồi 3 lõm hoặc hơi lồi, bề mặt nhẵn (Hình 1. Đặc điểm nổi bật của khuẩn lạc Lb.
fermentum là có cấu trúc vòng tròn đồng tâm khi đƣợc quan sát dƣới kính hiển vi (Hình 1. Hầu hết các tế bào vi khuẩn đƣợc sắp xếp dƣới dạng đơn lẻ hoặc theo cặp, không có khả năng sinh bào tử và không di động Hình 1. Hình dạng khuẩn lạc Lactobacillus fermentum Từ lâu, Lb. fermentum đã đƣợc sử dụng nhƣ là giống khởi đầu cho quá trình lên men trong nhiều sản phẩm thực phẩm và đồ uống.Giống nhƣ các loài thuộc LAB khác, trong quá trình lên men carbonhydrate, ngoài sản phẩm chính là acid latic, Lb.
fermentum còn tạo ra các hợp chất tạo hƣơng (diacetyl/acetoin) và đặc biệt là các EPS. Do có tính tạo gel, tạo kết cấu, tạo độ đặc trong thực phẩm nên chúng ngày càng quan trọng và có giá trị. Chúng có tiềm năng làm probiotic, làm giảm cholesterol, kích thích miễn dịch, chống ung thƣ.2 Expolysacharide từ vi khuẩn LAB 1.1 Cấu trúc EPS Polysaccharide (PS) là polyme thiên nhiên thuộc nhóm carbohydrate và thƣờng đƣợc coi là các polyme sinh học đa năng với các chức năng nhƣ là nguồn năng lƣợng dự trữ (tinh bột, glycogen), tạo nên cấu trúc vững chắc cho 4 thực vật hoặc động vật (cellulose, chitin), là chất bảo vệ (exopolysaccharide của vi sinh vật) (De Vuyst L. Trong quá trình sinh trƣởng và phát triển, vi khuẩn có thể sinh tổng hợp nhiều loại PS khác nhau.
Tùy theo vị trí trên tế bào, các PS đó có thể là nội bào hoặc ngoại bào. Những PS đƣợc tiết ra bên ngoài màng tế bào đƣợc gọi là PS ngoại bào. Chúng có thể tạo thành một chất dính bám chặt gọi là PS dạng màng bao, hoặc cũng có thể đƣợc gắn lỏng lẻo hay đƣợc bài tiết hoàn toàn ra môi trƣờng dƣới dạng chất nhờn gọi là EPS, theo các nghiên cứu đã công bố của Cerning J. và cộng sự (2012).
Cụ thể hơn, đây là những PS chuỗi dài, phân nhánh với các đơn vị lặp đi lặp lại của các monosaccharide hoặc các dẫn xuất của monosaccharide (Nwodo U. và cộng sự, 2012). Trong các nghiên cứu lần lƣợt bởi Sutherland I. và cộng sự (2011), căn cứ vào thành phần monosaccharide và đặc biệt là cơ chế sinh tổng hợp, các EPS từ vi khuẩn lactic đƣợc chia thành hai nhóm lớn là các polysaccharide dị thể - heteropolysaccharide (HePS) và các polysaccharide đồng thể - homopolysaccharide (HoPS).2: Cấu trúc dạng mạch thẳng (a) và mạch nhánh (b) của HoPS 5 - Nhóm homopolysaccharide (HoPS) HoPS là những PS đƣợc cấu tạo từ một loại monosaccharide (dạng hexose) nhƣ D-glucose hoặc D-fructose.
Các chi thuộc vi khuẩn lactic nhƣ Lactobacillus, Leuconostoc (Leu.) đƣợc biết đến nhƣ là nguồn sinh tổng hợp HoPS. Cấu trúc của dạng mạch thẳng (a) và mạch nhánh (b) của HoPS - Nhóm heteropolysaccharide (HePS) Khác với các HoPS, các HePS có sự đa dạng về thành phần, tỷ lệ monosaccharide và cấu trúc phân tử của các đơn vị lặp đi lặp lại, cũng nhƣ đặc điểm cấu tạo và khối lƣợng phân tử của polymer (Hình 1. Quá trình sinh tổng hợp của các HePS xảy ra trong tế bào, gồm một chuỗi các phản ứng phức tạp liên quan đến hệ enzyme nội bào của vi khuẩn lactic và thƣờng trải qua ba giai đoạn: (a) sự hấp thu cơ chất, (b) sự chuyển hóa đƣờng trung gian và (c) quá trình tổng hợp PS (Kumar và cộng sự, 2007).Cấu trúc của dạng mạch thẳng (a) và mạch nhánh (b) của HePS 6 1.2 Sinh tổng hợp exopolysaccharide từ vi khuẩn lactic Quá trình sinh tổng hợp EPS bởi các chủng vi khuẩn lactic có thể xảy ra ở bên trong hoặc ở bên ngoài tế bào. Đây là một quá trình phức tạp với nhiều phản ứng sinh hóa đƣợc xúc tác bởi enzyme (Laws và cộng sự, 2008; Patel và Prajapati, 2013).
Quá trình tổng hợp HoPS xảy ra ở bên ngoài tế bào nhờ sự xúc tác của các enzyme đặc hiệu glycosyltransferase (GTF - glucansucrase) hoặc fructosyl- transferase (FTF - fructansucrase). Các enzyme này từ nội bào di chuyển ra bên ngoài tế bào nhờ tín hiệu xuất. Sau đó, chúng xúc tác thủy phân sucrose thành glucose (glc) và fructose (fruc), tạo ra liên kết glycoside của glc hoặc fruc với một phân tử chất nhận thành chuỗi glucan hoặc fructan. Đây chính là các HoPS ngoại bào hay các EPS (Hình 1.3: Mô hình về quá trình sinh tổng hợp EPS 7 Một số vi khuẩn sản xuất một lƣợng lớn các phân tử polysaccharide có trọng lƣợng phân tử cao, còn gọi là exopolysaccharide.
Lớp áo ngoại bào này đƣợc gọi là vỏ vi khuẩn. Khả năng sản xuất vỏ là một trong những yếu tố độc lực quan trọng nhất của vi khuẩn về phƣơng diện xâm nhập tại vị trí viêm. Cụ thể, vỏ vi khuẩn giúp vi khuẩn chống lại cơ chế phòng vệ của cơ thể cũng nhƣ đề kháng kháng sinh.3 Sự chuyển hóa tạo nên các loại đƣờng trung gian Quá trình chuyển hóa này gồm hai giai đoạn: giai đoạn tổng hợp glucose-1-phosphate (Glc-1P) và giai đoạn hoạt hóa, liên kết của các loại đƣờng. Khi vào tế bào chất, glc trải qua quá trình glycolysis và phosphoryl hóa.
Đây là chìa khóa trung gian quan trọng gắn kết các quá trình đồng hóa trong sự tổng hợp EPS và các quá trình dị hóa để phân giải đƣờng. Trƣớc hết, dƣới tác dụng của hexokinase, glc tạo thành glucose-6-phosphate (Glc-6P). Sau đó, dƣới tác dụng của phosphoglucomutase (PGM), Glc-6P đƣợc chuyển thành Glc-1P.4 Sự hoạt hóa và liên kết của các loại đƣờng Glc-1P tiếp tục đƣợc chuyển hóa thành các nucleotide-đƣờng (NDP) nhƣ Uridine diphosphate glucose (UDP-glc) và Thymidine diphosphate glucose (TDP- glc), nhờ xúc tác của các enzyme tƣơng ứng là UDP-glucose pyrophosphorylase (UGP) và TDP-glucose pyrophosphorylase (TGP). Nhƣ vậy, khác với các HoPS, ngoài glc và fruc, HePS còn đƣợc cấu tạo bởi các monome đa dạng hơn nhƣ D-gal, L-rham, v.