ĐẶT VẤN ĐỀ Mãn kinh là một thời kì quan trọng trong cuộc đời người phụ nữ, đánh dấu sự kết thúc giai đoạn sinh sản của họ [1]. Bước vào thời kỳ mãn kinh, phụ nữ thường gặp phải nhiều triệu chứng liên quan đến sự thiếu hụt estrogen với một số biểu hiện như bốc hỏa ban đêm, rối loạn giấc ngủ và mất ngủ [2], [3]. Phụ nữ mãn kinh cũng gia tăng đáng kể nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa, loãng xương, suy giảm nhận thức [4], [5], [6]. Liệu pháp thay thế estrogen (ERT) là một trong những phương pháp điều trị hiệu quả nhất để giảm các triệu chứng vận mạch và điều trị các biến chứng khác liên quan đến thời kỳ mãn kinh.
ERT làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, loãng xương, Alzheimer và các triệu chứng cấp tính thời kỳ mãn kinh [4], [5], [6]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc dùng ERT kéo dài có thể gây ra các ảnh hưởng bao gồm tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư nội mạc tử cung [7]. Từ đó, các nghiên cứu đã tập trung vào tìm kiếm các nguồn estrogen tự nhiên để điều trị hội chứng mãn kinh, thông qua việc sàng lọc hàng loạt các loài thực vật nhằm xác định tác dụng tương tự estrogen, cũng như tìm kiếm phytoestrogen mới [8]. Loài Mạn kinh (Vitex trifolia L.) được sử dụng phổ biến trong y học cổ truyền, quả của nó dùng để chữa cảm mạo, sốt, đau đầu, nhức thái dương, nhức mắt, tối tăm mặt mũi, vô kinh.
Theo cuốn “The Natural Pharmacy”, các loài thuộc chi Vitex được giới thiệu dùng để điều trị hội chứng tiền mãn kinh. Quả và vỏ thân có tác dụng lên tuyến yên, sản sinh ra Luteinizing hormon (LH), hormon này làm tăng sản xuất progesteron, từ đó điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt [9]. Quả Mạn kinh cũng có chứa các thành phần: casticin, luteolin (flavonoid), rotundifuran (diterpen), vitexilacton (lacton) tương tự quả của các loài khác thuộc chi Vitex như Vitex agnus-catus, Vitex rotundifolia, được biết có chứa các hợp chất mang cấu trúc phytoestrogen và cho tác dụng kiểu estrogen [3]. Thực tế trên cho thấy nhu cầu thuốc điều trị/cải thiện hội chứng mãn kinh trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng lớn.
Mạn kinh tử cho thấy là loài thực vật có tiềm năng để phát triển thành sản phẩm có tác dụng hỗ trợ/điều trị hội chứng mãn kinh ở phụ nữ. Vấn đề đặt ra là cần có thêm các nghiên cứu về tác dụng dược lý và độ an toàn của loài thực vật này. 1 Tác giả Phan Văn Đức đã công bố một số tài liệu liên quan đến tác dụng kích thích tăng sinh tế bào MCF-7 của cao chiết toàn phần và cao agnusid từ Mạn kinh tử (Vitex trifolia) [10]. Để tiếp tục nghiên cứu về tác dụng kiểu estrogen và tìm ra cao phân đoạn cho tác dụng tốt nhất, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng tương tự estrogen của cao chiết phân đoạn Mạn kinh tử (Vitex trifolia L.) trên tế bào MCF-7” với 2 mục tiêu sau: 1.
Đánh giá tác dụng kích thích tăng sinh tế bào và tác dụng liên quan đến thụ thể estrogen trên tế bào MCF-7 in vitro của các dạng cao chiết từ Mạn kinh tử. Đánh giá thay đổi mức độ biểu hiện mARN liên quan đến thụ thể estrogen bằng kỹ thuật Realtime PCR của dạng cao chiết tiềm năng trên tế bào MCF-7. Hội chứng mãn kinh 1. Khái niệm Vào khoảng 40 - 50 tuổi ở người phụ nữ buồng trứng trở nên không đáp ứng với kích thích của tuyến yên, quá trình này xảy ra từ từ dẫn đến tình trạng chức năng buồng trứng giảm, chu kỳ kinh nguyệt và chu kỳ rụng trứng dần trở nên không đều.
Sau vài tháng đến vài năm các chu kỳ sinh dục ngừng, người phụ nữ hết kinh, không có hiện tượng phóng noãn, nồng độ các hormon sinh dục giảm đến mức hầu như bằng không. Hiện tượng sinh lý này được gọi là mãn kinh [11]. Mãn kinh tự nhiên được coi là xảy ra sau 12 tháng liên tục không có kinh nguyệt mà không có nguyên nhân sinh lý hoặc bệnh lý rõ ràng nào khác và không có can thiệp lâm sàng [1]. Các giai đoạn mãn kinh Hội thảo về phân chia giai đoạn tuổi sinh sản (STRAW) năm 2018 chia cuộc đời phụ nữ trưởng thành thành ba thời kỳ lớn: sinh sản, quá trình tiền mãn kinh và hậu mãn kinh.
Ba thời kỳ này bao gồm tổng cộng bảy giai đoạn tập trung vào kỳ kinh nguyệt cuối cùng (FMP) (Giai đoạn 0) [12], [13], [14], [15]. Hội chứng mãn kinh và các giai đoạn [16] 3 Thời kỳ sinh sản được chia thành các giai đoạn -5, -4 và -3 tương ứng với các giai đoạn sớm, đỉnh cao và muộn. Thời kỳ tiền mãn kinh bao gồm giai đoạn -2 (sớm) và giai đoạn -1 (muộn). Thời kỳ hậu mãn kinh bao gồm giai đoạn +1 (sớm) và giai đoạn +2 (muộn) [17].
Sự phân chia này được thực hiện trên cơ sở ba loại tiêu chí: tiêu chí chính (đặc điểm của chu kỳ kinh nguyệt), tiêu chí hỗ trợ (dấu ấn sinh học nội tiết và số lượng nang trứng (AFC) và đặc điểm mô tả (ví dụ: triệu chứng vận mạch). Nồng độ hormon kích thích nang trứng (FSH), hormon kháng Mullerian (AMH) và chất ức chế B được sử dụng làm dấu ấn sinh học nội tiết [16]. Nguyên nhân mãn kinh Nguyên nhân của mãn kinh là sự lão hóa của buồng trứng. Vào thời điểm mãn kinh, ở buồng trứng số nang trứng nguyên phát còn rất ít, việc đáp ứng của buồng trứng với kích thích của FSH và LH giảm dẫn đến lượng estrogen giảm dẫn đến mức thấp nhất.
Với hàm lượng này, estrogen không đủ để tạo một cơ chế điều hòa ngược (feedback) âm tính gây ức chế bài tiết FSH và LH đồng thời cũng không đủ để tạo cơ chế điều hòa ngược dương tính gây bài tiết đủ lượng FSH và LH cần thiết làm rụng trứng [11], [18], [19]. Dịch tễ hội chứng mãn kinh 1. Dịch tễ thế giới Năm 1980, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã triệu tập một nhóm các nhà khoa học để bàn về mãn kinh và định hướng nghiên cứu, thực hành lâm sàng trong tương lai. Nhận định chung cho thấy đã có nhiều vấn đề về mãn kinh được quan tâm như tuổi mãn kinh, các biến đổi ở giai đoạn tiền mãn kinh, các ưu điểm của liệu pháp hormon thay thế trong việc làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch và gãy xương do loãng xương ở người mãn kinh,.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại như những tác dụng bất lợi của liệu pháp hormon và đặc biệt là các thông tin về mãn kinh ở các nước đang phát triển còn rất ít, thậm chí hầu như không có. Cuộc họp tiếp theo được WHO tổ chức ở Geneva từ ngày 14 - 17/6/1994 đã ghi nhận nhiều tiến bộ nghiên cứu. Một số vấn đề được làm sáng tỏ đủ để cho phép đưa ra những khuyến cáo thực hành lâm sàng, sức khỏe cộng đồng và lập các chính sách y tế. Đồng thời cuộc họp cũng đã nhận định những vấn đề cần ưu tiên 4 trong nghiên cứu và nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng thêm thông tin về mãn kinh ở các nước đang phát triển [81].
Areti A, Michalis M, Aikaterini L và cộng sự (2019) nghiên cứu các triệu chứng về tâm thần và vận mạch thay đổi trong quá trình chuyển sang mãn kinh thấy rằng các triệu chứng vận mạch là một trong những triệu chứng mãn kinh phổ biến nhất. 50,3% đến 82,1% phụ nữ mãn kinh gặp các triệu chứng vận mạch với tần suất, thời gian và cường độ của chúng khác nhau. Cơn bốc hỏa và đổ mồ hôi vào ban đêm dẫn đến rối loạn giấc ngủ [20]. Năm 2008, Politi MC, Schleinitz Mark và Nananda F đã tiến hành nghiên cứu phân tích gộp về thời gian tồn tại của triệu chứng vận mạch ở 35.445 phụ nữ mãn kinh, ghi nhận rằng triệu chứng vận mạch bắt đầu xuất hiện khoảng 2 năm trước mãn kinh, đỉnh điểm 1 năm sau mãn kinh và kéo dài đến 8 năm sau mãn kinh.
Gần 50% phụ nữ mãn kinh ghi nhận triệu chứng vận mạch kéo dài 4 năm sau mãn kinh và khoảng 10% phụ nữ mãn kinh ghi nhận triệu chứng này kéo dài đến 12 năm sau mãn kinh [21]. Năm 2012, Li Lin, Wu Jie, Pu Danhua và cộng sự tiến hành nghiên cứu những yếu tố liên quan đến tuổi mãn kinh tự nhiên và triệu chứng mãn kinh ở 20.275 phụ nữ Trung Quốc độ tuổi 40-65, nhận thấy tuổi mãn kinh trung bình ở phụ nữ Trung Quốc là 50 tuổi. Các triệu chứng thường gặp sau mãn kinh là: rối loạn sinh hoạt tình dục 57,05%, đau cơ đau khớp 53,29%, mất ngủ 51,02% [22]. Dịch tễ Việt Nam Nghiên cứu của Phạm Minh Đức và cộng sự (2004) trên 7545 phụ nữ 25 - 65 tuổi tại 7 vùng miền khác nhau trên cả nước thấy rằng tuổi mãn kinh là 46,7 - 51,3 tuổi.
Tỷ lệ các rối loạn chức năng cũng tương đối cao: 89,2% bị khô âm đạo; 63,7% bị đau lưng; 55,8% có rối loạn kinh nguyệt; 50,6% bị chóng mặt; 49% có mất ngủ, rối loạn trí nhớ và 32,8% bị bốc hỏa [23]. Nguyễn Thị Lan Phương, Trần Thị Lợi (2011) nghiên cứu các rối loạn tiền mãn kinh, mãn kinh ở phụ nữ thị xã Long Khánh thấy rằng tỷ lệ bốc hỏa chiếm 53,8%; mất ngủ chiếm 56,4%; rối loạn tiết niệu: tiểu nhiều lần chiếm 23,4%, tiểu đêm chiếm 32,7%; rối loạn sinh dục: khô âm đạo chiếm 40,8%, giao hợp đau chiếm 50% [24]. Vai trò của estrogen trong thời kỳ mãn kinh 1. Sinh lý mãn kinh Sự xuất hiện của thời kỳ mãn kinh không phải là một sự kiện đơn lẻ mà là một điểm trong chuỗi những thay đổi sinh sản liên tục xảy ra trong suốt vòng đời của người phụ nữ.
Hiện tượng khởi đầu quá trình tiền mãn kinh là sự giảm số lượng và chất lượng của các nang trứng. Số lượng nang trứng giảm làm thay đổi nồng độ hormon và ảnh hưởng đến trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng. Sự suy giảm về số lượng nang trứng chức năng là yếu tố chính báo hiệu sự khởi đầu của thời kỳ mãn kinh. Số lượng nang trứng giảm dần trong suốt vòng đời của phụ nữ.
Tuy nhiên, tốc độ giảm số lượng nang trứng không cố định [25]. Dữ liệu hiện tại cho thấy hormon kháng Mullerian là marker tốt nhất đánh dấu sự suy giảm dự trữ nang trứng. Buồng trứng là cơ quan sản xuất estrogen chính trong cơ quan sinh sản của người phụ nữ. Ngoài 17β-estradiol và estrone, buồng trứng sản xuất các hormon steroid như progesterone, testosterone, androstendion và DHEA cũng như các hormon peptide như inhibin.