Luận án nghiên cứu tác dụng kháng ung thư phổi của virus vaccine sởi trên thực nghiệm

Luận án nghiên cứu tác dụng của virus vaccine sởi trong điều trị ung thư phổi, cung cấp thông tin và kết quả thực nghiệm đáng chú ý.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

163
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Ung thư phổi

1.2. Tình hình ung thư phổi trên thế giới

1.3. Tình hình ung thư phổi ở Việt Nam

1.4. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ ung thư phổi

1.5. Phân loại ung thư phổi

1.6. Cơ chế bệnh sinh của ung thư phổi

1.7. Các phương pháp điều trị ung thư phổi hiện nay tại Việt Nam

1.8. Liệu pháp virus vaccine sởi điều trị ung thư phổi người

1.9. Sinh học virus sởi

1.10. Virus vaccine sởi lây nhiễm đặc hiệu tế bào ung thư phổi

1.11. Các cơ chế virus vaccine sởi ly giải tế bào ung thư phổi

1.12. Đáp ứng miễn dịch vật chủ kháng MeV

1.13. Các thử nghiệm lâm sàng sử dụng MeV điều trị ung thư

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Vật liệu nghiên cứu

2.3. Trang thiết bị sử dụng trong nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Nuôi cấy và tăng sinh các dòng tế bào

2.6. Tăng sinh và chuẩn độ virus vaccine sởi

2.7. Đánh giá virus vaccine sởi ly giải tế bào bằng thử nghiệm MTT

2.8. Chuẩn bị mẫu tế bào H460 và A549 nhiễm MeV đánh giá tế bào chết theo chương trình bằng phương pháp dòng chảy

2.9. Phương pháp phân tích tế bào dòng chảy đánh giá tỉ lệ tế bào H460 và A549 chết theo chương trình

2.10. Phương pháp nuôi chuột thiếu hụt miễn dịch (chuột nude)

2.11. Tạo khối u tế bào H460 trên đùi chuột nude và tính thể tích khối u

2.12. Phương pháp điều trị chuột nude bằng MeV

2.13. Phương pháp đánh giá hiệu quả điều trị khối u tế bào H460 của MeV

2.14. Phương pháp phẫu tích lấy mô u tế bào H460 ở chuột nude sau điều trị bằng MeV

2.15. Xử lý mô u tế bào H460 thành mẫu tế bào để đánh giá tỉ lệ các tế bào miễn dịch và tế bào chết theo chương trình bằng phương pháp tế bào dòng chảy

2.16. Đánh giá siêu cấu trúc mô u tế bào H460 trên chuột nude sau điều trị bằng MeV

2.17. Phân tích giải phẫu bệnh mô u tế bào H460 cấy ghép trên chuột nude

2.18. Phương pháp phân tích kết quả

2.19. Đạo đức trong nghiên cứu

2.20. Hạn chế của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Nuôi cấy, tăng sinh dòng tế bào H460 A549, Vero và virus vaccine sởi

3.2. Nuôi cấy, tăng sinh các dòng tế bào H460, A549 và Vero

3.3. Tăng sinh virus vaccine sởi

3.4. Chuẩn độ TCID50 của virus vaccine sởi

3.5. Ly giải trực tiếp tế bào ung thư phổi người dòng H460 và A549 của Virus vaccine sởi in vitro

3.6. Tế bào H460 và A549 nhiễm virus vaccine sởi tạo hợp bào in vitro

3.7. Hiệu quả ly giải tế bào ung thư phổi người H460 và A549 bằng thử nghiệm MTT của virus vaccine sởi

3.8. Đánh giá tỉ lệ tế bào H460 và A549 chết theo chương trình sau nhiễm MeV in vitro bằng phương pháp phân tích tế bào dòng chảy

3.9. Virus vaccine sởi kháng u tế bào ung thư phổi H460 cấy ghép trên chuột thiếu hụt miễn dịch

3.10. Kết quả ghép u dòng tế bào ung thư phổi người H460

3.11. Kết quả điều trị chuột nude mang khối u tế bào ung thư phổi người H460 bằng virus vaccine sởi

3.12. Tỉ lệ tế bào u H460 cấy ghép trên chuột nude chết theo chương trình sau điều trị bằng MeV

3.13. Hình ảnh siêu cấu trúc tế bào u phổi H460 và A549 sau điều trị bằng virus vaccine sởi

3.14. Kết quả giải phẫu bệnh u tế bào H460 cấy ghép trên chuột Nude sau điều trị bằng MeV

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tăng sinh các dòng tế bào Vero và tế bào ung thư phổi người H460 và A549 in vitro

4.2. Tăng sinh dòng tế bào Vero

4.3. Nuôi cấy, tăng sinh dòng tế bào ung thư phổi người H460 và A549

4.4. Tăng sinh virus vaccine sởi và Chuẩn độ TCID50

4.5. Virus vaccine sởi ly giải tế bào H460 và A540 in vitro

4.6. Ly giải trực tiếp bằng cách tạo hợp bào in vitro

4.7. Đánh giá hiệu quả của virus vaccine sởi ly giải tế bào H460 và A549 bằng nghiệm pháp MTT

4.8. MeV gây chết tế bào apoptosis dòng tế bào ung thư phổi H460 và A549 invitro

4.9. Virus vaccine sởi kháng u tế bào ung thư phổi người H460 cấy ghép trên chuột thiếu hụt miễn dịch

4.10. Đánh giá độc tính của virus vaccine sởi điều trị chuột thiếu hụt miễn dịch mang khối u tế bào ung thư phổi người H460

4.11. Virus vaccine sởi kháng u tế bào ung thư phổi người H460 trên chuột thiếu hụt miễn dịch

4.12. Virus vaccine sởi kích thích miễn dịch đặc hiệu kháng u tế bào ung thư phổi người H460 trên chuột thiếu hụt miễn dịch

4.13. MeV kháng tế bào u H460 cấy ghép trên chuột nude qua con đường chết tế bào apoptosis

4.14. Kết quả siêu cấu trúc tế bào u phổi người H460 ghép trên chuột thiếu hụt miễn dịch sau điều trị bằng virus vaccine sởi

4.15. Kết quả giải phẫu bệnh tế bào u phổi người H460 ghép trên chuột thiếu hụt miễn dịch sau điều trị bằng virus vaccine sởi

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI, LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về ung thư phổi

Ung thư phổi (UTP) là một trong những loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới, đứng thứ hai sau ung thư vú. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2020 có khoảng 2,21 triệu ca UTP mới và 1,8 triệu ca tử vong do UTP. UTP là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở cả nam và nữ. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong sàng lọc và điều trị, UTP vẫn là một thách thức lớn cho các nhà lâm sàng. Điều trị UTP hiện nay bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị, nhưng tỷ lệ sống sót sau 5 năm vẫn thấp, chỉ khoảng 18%. Hơn 50% bệnh nhân tử vong trong vòng 1 năm sau khi được chẩn đoán. Liệu pháp virus vaccine sởi (MeV) đã được nghiên cứu như một phương pháp điều trị mới, với nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy hiệu quả khả quan trong việc kháng ung thư.

1.1. Tình hình ung thư phổi trên thế giới

Tại Hoa Kỳ, UTP là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư. Năm 2018, số người chết vì UTP vượt quá số lượng của ba loại ung thư phổ biến tiếp theo. Tỷ lệ sống thêm cho bệnh nhân UTP không tế bào nhỏ (NSCLC) vẫn thấp, từ 68% ở giai đoạn IB xuống 0-10% ở giai đoạn IVA-IVB. Ở Châu Âu, UTP là loại ung thư phổ biến thứ hai và dự đoán sẽ tiếp tục là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm hút thuốc lá và ô nhiễm không khí. Tỷ lệ tử vong do UTP ở Châu Âu có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia, với Hungary có tỷ lệ cao nhất. Mặc dù tỷ lệ tử vong đã giảm, tỷ lệ sống sót vẫn thấp do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn.

1.2. Tình hình ung thư phổi ở Việt Nam

Theo GLOBOCAN, UTP là ung thư phổ biến và nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư ở Việt Nam. Từ năm 2012, ước tính có khoảng 26.262 trường hợp mắc và 25.272 trường hợp tử vong vào năm 2020. Tỷ lệ tử vong do UTP tăng đều đặn từ năm 1990 đến 2019, với 26,11/100.000 người vào năm 2019. UTP là bệnh ung thư được chẩn đoán phổ biến nhất ở nam giới và đứng thứ tư ở phụ nữ. Tỷ lệ sống thêm sau 5 năm của bệnh UTP ở Việt Nam là 14,8%, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện các phương pháp điều trị và phát hiện sớm.

II. Virus vaccine sởi và tác dụng kháng ung thư

Virus vaccine sởi (MeV) đã được nghiên cứu như một liệu pháp điều trị ung thư, đặc biệt là ung thư phổi. MeV có khả năng lây nhiễm đặc hiệu vào tế bào ung thư và kích thích hệ miễn dịch của cơ thể. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng MeV có thể ly giải tế bào ung thư phổi, tạo ra các phản ứng miễn dịch mạnh mẽ. Các nghiên cứu cho thấy MeV có thể gây chết tế bào ung thư thông qua cơ chế apoptosis, làm tăng cường hiệu quả điều trị. Việc sử dụng MeV trong điều trị ung thư phổi mở ra hướng đi mới cho các phương pháp điều trị hiện tại.

2.1. Cơ chế tác động của virus vaccine sởi

MeV xâm nhập vào tế bào ung thư và gây ra quá trình ly giải tế bào. Quá trình này không chỉ giải phóng virus mới mà còn kích thích hệ miễn dịch, tạo ra các phản ứng miễn dịch đặc hiệu chống lại tế bào ung thư. Nghiên cứu cho thấy MeV có thể gây chết tế bào ung thư phổi thông qua cơ chế apoptosis, làm tăng cường hiệu quả điều trị. Việc sử dụng MeV trong điều trị ung thư phổi có thể giúp cải thiện tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân.

2.2. Thử nghiệm lâm sàng và kết quả

Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của MeV trong điều trị ung thư phổi. Kết quả cho thấy MeV có tác dụng kháng ung thư rõ rệt, với tỷ lệ tế bào ung thư chết theo chương trình cao. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng MeV có thể được sử dụng an toàn và hiệu quả trong điều trị ung thư phổi, mở ra cơ hội cho các phương pháp điều trị mới trong tương lai.

III. Đánh giá hiệu quả điều trị bằng virus vaccine sởi

Nghiên cứu tác dụng kháng ung thư phổi của virus vaccine sởi trên mô hình chuột nude cho thấy MeV có khả năng ly giải tế bào ung thư phổi H460. Kết quả cho thấy tỷ lệ tế bào chết theo chương trình cao, đồng thời kích thích sự phát triển của các tế bào miễn dịch. Điều này cho thấy MeV không chỉ có tác dụng trực tiếp lên tế bào ung thư mà còn kích thích hệ miễn dịch của cơ thể, tạo ra một phản ứng kháng ung thư mạnh mẽ.

3.1. Kết quả nghiên cứu trên mô hình chuột

Trong nghiên cứu, chuột nude được sử dụng để đánh giá hiệu quả điều trị của MeV. Kết quả cho thấy MeV có khả năng ly giải tế bào ung thư phổi H460, với tỷ lệ tế bào chết theo chương trình cao. Điều này chứng tỏ rằng MeV có thể là một phương pháp điều trị hiệu quả cho ung thư phổi, mở ra hướng đi mới cho các liệu pháp điều trị hiện tại.

3.2. Tác động đến hệ miễn dịch

MeV không chỉ tác động trực tiếp lên tế bào ung thư mà còn kích thích hệ miễn dịch của cơ thể. Nghiên cứu cho thấy MeV có khả năng kích thích sự phát triển của các tế bào miễn dịch, tạo ra phản ứng kháng ung thư mạnh mẽ. Điều này cho thấy MeV có thể là một phương pháp điều trị hiệu quả, không chỉ giúp tiêu diệt tế bào ung thư mà còn tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Ung thư phổi 1. Tình hình ung thư phổi trên thế giới Ung thư phổi (UTP) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư ở Hoa Kỳ cho cả nam và nữ. Trong năm 2018 có số lượng người Mỹ chết vì UTP vượt quá số lượng 3 loại ung thư phổ biến tiếp theo cộng lại (ung thư đại tràng, vú và tuyến tiền liệt).

Tỷ lệ sống thêm chung trong 60 tháng đối với bệnh UTP không tế bào nhỏ (Non-small cell lung carcinoma - NSCLC) vẫn thấp, từ 68% ở bệnh nhân bệnh giai đoạn IB xuống 0% đến 10% ở bệnh nhân giai đoạn IVA-IVB.3 Ở Châu Âu, UTP là dạng ung thư được chẩn đoán phổ biến thứ hai sau ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới và là loại ung thư phổ biến thứ ba sau ung thư vú và ung thư đại trực tràng ở nữ giới.000 người ở các nước Châu Âu được chẩn đoán mới mắc UTP, và bệnh này được dự đoán sẽ tiếp tục là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư với hơn 257.000 trường hợp tử vong trên toàn Châu Âu.4 Các yếu tố nguy cơ chính của UTP là hút thuốc lá và yếu tố môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí. Năm 2020, tỷ lệ mắc bệnh UTP ở nam giới nói chung ở Châu Âu là gần 100/100.000 người, cao hơn gấp đôi tỷ lệ ở nữ giới (45/100. Ở Đan Mạch và Thụy Điển, tỷ lệ mắc bệnh này gần như giống nhau ở nam và nữ, phản ánh khoảng cách giới về hút thuốc ngày càng thu hẹp trong những thập kỷ gần đây. Tỷ lệ tử vong do UTPvào năm 2020 là 54/100.000 dân ở Châu Âu nói chung.

Sự khác biệt về tỷ lệ tử vong do bệnh này giữa các quốc gia là hơn 3 lần đối với nam giới và hơn 4 lần đối với nữ giới. Năm 2020, Hungary được dự đoán là quốc gia có tỷ lệ tử vong do UTP cao nhất đối với cả nam và nữ. Ở các nước Bắc Âu như Thụy Điển và Đan Mạch phản ánh sự 4 khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh, khoảng cách về tỷ lệ tử vong theo giới tính là nhỏ, ở một số nước Nam và Đông Âu (ví dụ: Hy Lạp và Estonia) lại lớn.5 So với ung thư vú và ung thư đại trực tràng, UTP vẫn là ung thư có khả năng sống sau chẩn đoán tương đối thấp. Theo thống kê 2010-2014, đối với những bệnh nhân được chẩn đoán UTP trong các giai đoạn, xác suất tích lũy sống thêm sau ít nhất 5 năm (sau khi điều chỉnh các nguyên nhân tử vong khác) trung bình là 15% ở các nước Châu Âu.

Xác suất này nằm trong khoảng từ 10% trở xuống ở Croatia, Lithuania và Bulgaria đến 20% ở Áo, Thụy Điển, Iceland và Thụy Sĩ. Điều này cho thấy sự khác biệt đáng kể trong việc chẩn đoán, tiếp cận kịp thời với thuốc và các phương pháp điều trị. Nhiều loại dược phẩm khác nhau đã được công nhận và được bảo hiểm chi trả cho điều trị UTP ở châu Âu rất khác nhau giữa các quốc gia.5 Trong khoảng thời gian từ 2000-2004 đến 2010-2014, thời gian sống thêm 5 năm sau khi chẩn đoán UTP đã tăng trung bình từ 11% lên 15% ở các nước Châu Âu.5 Nhìn chung, tỷ lệ tử vong do UTP đã theo xu hướng giảm, tỷ lệ mắc bệnh với thời gian chẩn đoán muộn thì xác suất sống thêm vẫn tương đối thấp ở tất cả các quốc gia. Điều này một phần là do chưa có các chương trình tầm soát UTP quy mô lớn nào ở các nước châu Âu, đặc biệt là đối với các nhóm dân số có nguy cơ cao, vì vậy làm hạn chế khả năng phát hiện và điều trị UTP ở giai đoạn đầu.

Hiệu quả điều trị UTP vẫn còn nhiều khó khăn do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, bệnh nhân lớn tuổi, sự không đồng nhất về đột biến gen, typ mô bệnh học. Do đó, cách tiếp cận hứa hẹn nhất để giảm tỷ lệ tử vong do UTP là tăng cường phòng ngừa để giảm tỷ lệ mắc bệnh hơn nữa, đặc biệt là thông qua các chính sách kiểm soát thuốc lá và chính sách giảm ô nhiễm không khí. Tình hình ung thư phổi ở Việt Nam Năm 2019, GLOBOCAN cho thấy UTP là ung thư phổ biến và nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư ở người Việt Nam. Kể từ năm 2012, 5 người ta ước tính khoảng 26.262 trường hợp mắc và 25.272 trường hợp tử vong do ung thư vào năm 2020.

Tỷ lệ tử vong do UTP được chuẩn hóa theo độ tuổi tăng đều đặn từ năm 1990 đến năm 2019, với ước tính 26,11/100.000 người vào năm 2019. Việt Nam ở vị trí thứ 37 về tỷ lệ tử vong do UTP trên toàn thế giới.6 Tại Việt nam, UTP là bệnh ung thư được chẩn đoán phổ biến nhất ở nam giới và là bệnh ung thư đứng hàng thứ tư ở phụ nữ. Trên cơ sở dữ liệu từ năm 2013 đến năm 2017 từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 32,03 /100.000 dân đối với nam và 10,48/100.000 đối với nữ. Tỷ lệ mắc bệnh theo độ tuổi trong năm 2013 đến năm 2017, ở mức thấp đối với nhóm tuổi dưới 40 tuổi và tỷ lệ ung thư gia tăng theo tuổi, tỷ lệ cao nhất ở nhóm 65 đến 79 tuổi ở cả nam và nữ.

Tuy nhiên, số ca UTP tuyệt đối được dự báo sẽ tiếp tục tăng ở cả hai thành phố, với dự báo 6.198 ca nam và 2.311 ca nữ vào năm 2025 do sự gia tăng dân số già hóa và tác động của thuốc lá và ô nhiễm môi trường. Tỷ lệ sống thêm sau 5 năm của bệnh UTP ở Việt Nam là 14,8%. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ ung thư phổi 1. Hút thuốc lá Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với UTP.

Hút thuốc lá chủ động hay thụ động ( bao gồm hút thuốc lá, xì gà và thuốc lào) đều làm tăng nguy cơ UTP. Các nghiên cứu cũng cho thấy nguy cơ UTP do hút thuốc lá tăng theo số lượng thuốc lá hút mỗi ngày và số năm hút thuốc. Những người hút thuốc có nguy cơ mắc UTP cao gấp 20-50 lần so với những người không hút thuốc. Nguy cơ UTP gia tăng cũng đã được chứng minh tùy theo từng khu vực và tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá địa phương.

8 Tỷ lệ UTP cao hơn ở người Mỹ gốc Phi so với các nhóm dân tộc khác ở Hoa Kỳ có lẽ được giải thích là do họ tiêu thụ nhiều thuốc lá hơn. Mặc dù có sự khác biệt về thành phần, hàm lượng các chất trong mỗi điếu thuốc lá của các sản phẩm thuốc lá trên thị trường không được công bố rõ ràng để có thể so sánh với các 6 sản phẩm thuốc lá truyền thống (cigar, thuốc lào) về mức độ nguy cơ gây UTP. Bên cạnh đó tính nhạy cảm di truyền cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của UTP giữa các chủng tộc người khác nhau. Ô nhiễm không khí Ô nhiễm không khí trong nhà được coi là một yếu tố nguy cơ chính gây UTP.

Điều này bao gồm đốt than trong những ngôi nhà thông gió kém, đốt củi và các nhiên liệu rắn khác, cũng như khói từ quá trình nấu nướng ở nhiệt độ cao sử dụng dầu thực vật chưa tinh chế như dầu hạt cải. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng chứng mình được mối liên hệ chặt chẽ giữa việc tiếp xúc với chất ô nhiễm không khí và bệnh UTP. Trong một số nghiên cứu thuần tập, các phép đo môi trường đối với các hạt mịn gợi ý về sự gia tăng nhẹ nguy cơ ở những người được xếp vào nhóm tiếp xúc nhiều nhất với ô nhiễm không khí. Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế đã phân loại ô nhiễm không khí ngoài trời như một chất gây UTP ở người.

Chế độ ăn và uống rượu Có bằng chứng từ các nghiên cứu bệnh chứng cho thấy chế độ ăn nhiều rau và trái cây, đặc biệt là các loại rau họ cải, có thể tạo ra một số tác dụng bảo vệ chống lại UTP. Isothiocyanates trong bắp cải là một nhóm hoạt chất có hoạt tính ngăn ngừa ung thư trong đó có UTP. Ăn nhiều thịt, đặc biệt là thịt đỏ rán hoặc rán kỹ, có thể làm tăng nguy cơ UTP và điều này có thể liên quan đến việc hình thành chất nitrosamine gây ung thư trong quá trình nấu ăn. Một phân tích tổng hợp của tám nghiên cứu thuần tập không cung cấp bằng chứng về việc tăng nguy cơ UTP khi ăn nhiều chất béo tổng hoặc chất béo bão hòa.12 Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến nguy cơ UTP theo lượng ước tính của β- carotene hoặc tổng số carotenoid (tương ứng với tổng của α- và β-carotene).13 Trong một báo cáo từ nghiên cứu NIH-AARP, uống cà phê có liên quan đến UTP (HR; 95% CI uống ⩾6 cốc/ngày so với không uống: 4,56 (4,08–5,10)).14 Có một số bằng chứng về tác dụng ngăn ngừa UTP của trà ở những người hút 7 thuốc, đặc biệt là trà xanh.15 Do mối tương quan chặt chẽ giữa việc uống rượu và hút thuốc lá ở nhiều dân số, rất khó để làm sáng tỏ sự đóng góp của rượu vào quá trình bệnh sinh UTP trong khi kiểm soát đúng cách tác động gây nhiễu tiềm ẩn của thuốc lá, vì không có mối liên quan nhất quán nào được quan sát thấy ở những người uống rượu mà không bao giờ hút thuốc.

Phơi nhiễm nghề nghiệp Tiếp xúc nghề nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong căn nguyên UTP, nguy cơ UTP tăng lên ở những người lao động làm việc trong một số ngành và nghề. Hai nghiên cứu đã báo cáo ước tính tỷ lệ các trường hợp UTP do tác nhân nghề nghiệp ở Anh là 14,5% nói chung16 và 12,5% ở nam giới ở Pháp17. Các chất gây UTP do ảnh hưởng của nghề nghiệp quan trọng nhất được báo cáo là: amiăng, silica (một oxid của silic), radon, các kim loại nặng và hydrocacbon thơm đa vòng. Các hợp chất crom làm tăng nguy cơ UTP ở những công nhân sản xuất cromat, nhà sản xuất sắc tố cromat, đĩa crom và nhà sản xuất ferrochromium.

Không có nguy cơ nào như vậy được phát hiện ở những công nhân chỉ tiếp xúc với các hợp chất crom. Các nghiên cứu về thợ mỏ, lò luyện niken, công nhân điện phân và các nhà sản xuất hợp kim niken cao cho thấy nguy cơ UTP tăng lên. Các bằng chứng hiện chưa có không mỗi liên hệ rõ ràng giữa các loại muối niken khác nhau mà công nhân tiếp xúc với UTP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tác dụng kháng ung thư phổi của virus vaccine sởi" khám phá tiềm năng của virus vaccine sởi trong việc điều trị ung thư phổi. Nghiên cứu chỉ ra rằng virus này không chỉ có khả năng kích thích hệ miễn dịch mà còn có thể tiêu diệt tế bào ung thư một cách hiệu quả. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các phương pháp điều trị ung thư, đặc biệt là cho những bệnh nhân không còn nhiều lựa chọn điều trị.

Độc giả có thể tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe và điều trị bệnh bằng cách tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố hồ chí minh, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về các bệnh lý liên quan đến virus. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới who năm 2013 cũng có thể giúp độc giả hiểu rõ hơn về các loại ung thư khác nhau và cách tiếp cận điều trị. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học. Những tài liệu này sẽ giúp độc giả mở rộng kiến thức và hiểu biết về các nghiên cứu y học tiên tiến.