CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Ung thư phổi 1. Tình hình ung thư phổi trên thế giới Ung thư phổi (UTP) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư ở Hoa Kỳ cho cả nam và nữ. Trong năm 2018 có số lượng người Mỹ chết vì UTP vượt quá số lượng 3 loại ung thư phổ biến tiếp theo cộng lại (ung thư đại tràng, vú và tuyến tiền liệt).
Tỷ lệ sống thêm chung trong 60 tháng đối với bệnh UTP không tế bào nhỏ (Non-small cell lung carcinoma - NSCLC) vẫn thấp, từ 68% ở bệnh nhân bệnh giai đoạn IB xuống 0% đến 10% ở bệnh nhân giai đoạn IVA-IVB.3 Ở Châu Âu, UTP là dạng ung thư được chẩn đoán phổ biến thứ hai sau ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới và là loại ung thư phổ biến thứ ba sau ung thư vú và ung thư đại trực tràng ở nữ giới.000 người ở các nước Châu Âu được chẩn đoán mới mắc UTP, và bệnh này được dự đoán sẽ tiếp tục là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư với hơn 257.000 trường hợp tử vong trên toàn Châu Âu.4 Các yếu tố nguy cơ chính của UTP là hút thuốc lá và yếu tố môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí. Năm 2020, tỷ lệ mắc bệnh UTP ở nam giới nói chung ở Châu Âu là gần 100/100.000 người, cao hơn gấp đôi tỷ lệ ở nữ giới (45/100. Ở Đan Mạch và Thụy Điển, tỷ lệ mắc bệnh này gần như giống nhau ở nam và nữ, phản ánh khoảng cách giới về hút thuốc ngày càng thu hẹp trong những thập kỷ gần đây. Tỷ lệ tử vong do UTPvào năm 2020 là 54/100.000 dân ở Châu Âu nói chung.
Sự khác biệt về tỷ lệ tử vong do bệnh này giữa các quốc gia là hơn 3 lần đối với nam giới và hơn 4 lần đối với nữ giới. Năm 2020, Hungary được dự đoán là quốc gia có tỷ lệ tử vong do UTP cao nhất đối với cả nam và nữ. Ở các nước Bắc Âu như Thụy Điển và Đan Mạch phản ánh sự 4 khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh, khoảng cách về tỷ lệ tử vong theo giới tính là nhỏ, ở một số nước Nam và Đông Âu (ví dụ: Hy Lạp và Estonia) lại lớn.5 So với ung thư vú và ung thư đại trực tràng, UTP vẫn là ung thư có khả năng sống sau chẩn đoán tương đối thấp. Theo thống kê 2010-2014, đối với những bệnh nhân được chẩn đoán UTP trong các giai đoạn, xác suất tích lũy sống thêm sau ít nhất 5 năm (sau khi điều chỉnh các nguyên nhân tử vong khác) trung bình là 15% ở các nước Châu Âu.
Xác suất này nằm trong khoảng từ 10% trở xuống ở Croatia, Lithuania và Bulgaria đến 20% ở Áo, Thụy Điển, Iceland và Thụy Sĩ. Điều này cho thấy sự khác biệt đáng kể trong việc chẩn đoán, tiếp cận kịp thời với thuốc và các phương pháp điều trị. Nhiều loại dược phẩm khác nhau đã được công nhận và được bảo hiểm chi trả cho điều trị UTP ở châu Âu rất khác nhau giữa các quốc gia.5 Trong khoảng thời gian từ 2000-2004 đến 2010-2014, thời gian sống thêm 5 năm sau khi chẩn đoán UTP đã tăng trung bình từ 11% lên 15% ở các nước Châu Âu.5 Nhìn chung, tỷ lệ tử vong do UTP đã theo xu hướng giảm, tỷ lệ mắc bệnh với thời gian chẩn đoán muộn thì xác suất sống thêm vẫn tương đối thấp ở tất cả các quốc gia. Điều này một phần là do chưa có các chương trình tầm soát UTP quy mô lớn nào ở các nước châu Âu, đặc biệt là đối với các nhóm dân số có nguy cơ cao, vì vậy làm hạn chế khả năng phát hiện và điều trị UTP ở giai đoạn đầu.
Hiệu quả điều trị UTP vẫn còn nhiều khó khăn do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, bệnh nhân lớn tuổi, sự không đồng nhất về đột biến gen, typ mô bệnh học. Do đó, cách tiếp cận hứa hẹn nhất để giảm tỷ lệ tử vong do UTP là tăng cường phòng ngừa để giảm tỷ lệ mắc bệnh hơn nữa, đặc biệt là thông qua các chính sách kiểm soát thuốc lá và chính sách giảm ô nhiễm không khí. Tình hình ung thư phổi ở Việt Nam Năm 2019, GLOBOCAN cho thấy UTP là ung thư phổ biến và nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư ở người Việt Nam. Kể từ năm 2012, 5 người ta ước tính khoảng 26.262 trường hợp mắc và 25.272 trường hợp tử vong do ung thư vào năm 2020.
Tỷ lệ tử vong do UTP được chuẩn hóa theo độ tuổi tăng đều đặn từ năm 1990 đến năm 2019, với ước tính 26,11/100.000 người vào năm 2019. Việt Nam ở vị trí thứ 37 về tỷ lệ tử vong do UTP trên toàn thế giới.6 Tại Việt nam, UTP là bệnh ung thư được chẩn đoán phổ biến nhất ở nam giới và là bệnh ung thư đứng hàng thứ tư ở phụ nữ. Trên cơ sở dữ liệu từ năm 2013 đến năm 2017 từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 32,03 /100.000 dân đối với nam và 10,48/100.000 đối với nữ. Tỷ lệ mắc bệnh theo độ tuổi trong năm 2013 đến năm 2017, ở mức thấp đối với nhóm tuổi dưới 40 tuổi và tỷ lệ ung thư gia tăng theo tuổi, tỷ lệ cao nhất ở nhóm 65 đến 79 tuổi ở cả nam và nữ.
Tuy nhiên, số ca UTP tuyệt đối được dự báo sẽ tiếp tục tăng ở cả hai thành phố, với dự báo 6.198 ca nam và 2.311 ca nữ vào năm 2025 do sự gia tăng dân số già hóa và tác động của thuốc lá và ô nhiễm môi trường. Tỷ lệ sống thêm sau 5 năm của bệnh UTP ở Việt Nam là 14,8%. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ ung thư phổi 1. Hút thuốc lá Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với UTP.
Hút thuốc lá chủ động hay thụ động ( bao gồm hút thuốc lá, xì gà và thuốc lào) đều làm tăng nguy cơ UTP. Các nghiên cứu cũng cho thấy nguy cơ UTP do hút thuốc lá tăng theo số lượng thuốc lá hút mỗi ngày và số năm hút thuốc. Những người hút thuốc có nguy cơ mắc UTP cao gấp 20-50 lần so với những người không hút thuốc. Nguy cơ UTP gia tăng cũng đã được chứng minh tùy theo từng khu vực và tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá địa phương.
8 Tỷ lệ UTP cao hơn ở người Mỹ gốc Phi so với các nhóm dân tộc khác ở Hoa Kỳ có lẽ được giải thích là do họ tiêu thụ nhiều thuốc lá hơn. Mặc dù có sự khác biệt về thành phần, hàm lượng các chất trong mỗi điếu thuốc lá của các sản phẩm thuốc lá trên thị trường không được công bố rõ ràng để có thể so sánh với các 6 sản phẩm thuốc lá truyền thống (cigar, thuốc lào) về mức độ nguy cơ gây UTP. Bên cạnh đó tính nhạy cảm di truyền cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của UTP giữa các chủng tộc người khác nhau. Ô nhiễm không khí Ô nhiễm không khí trong nhà được coi là một yếu tố nguy cơ chính gây UTP.
Điều này bao gồm đốt than trong những ngôi nhà thông gió kém, đốt củi và các nhiên liệu rắn khác, cũng như khói từ quá trình nấu nướng ở nhiệt độ cao sử dụng dầu thực vật chưa tinh chế như dầu hạt cải. Các nghiên cứu dịch tễ học cũng chứng mình được mối liên hệ chặt chẽ giữa việc tiếp xúc với chất ô nhiễm không khí và bệnh UTP. Trong một số nghiên cứu thuần tập, các phép đo môi trường đối với các hạt mịn gợi ý về sự gia tăng nhẹ nguy cơ ở những người được xếp vào nhóm tiếp xúc nhiều nhất với ô nhiễm không khí. Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế đã phân loại ô nhiễm không khí ngoài trời như một chất gây UTP ở người.
Chế độ ăn và uống rượu Có bằng chứng từ các nghiên cứu bệnh chứng cho thấy chế độ ăn nhiều rau và trái cây, đặc biệt là các loại rau họ cải, có thể tạo ra một số tác dụng bảo vệ chống lại UTP. Isothiocyanates trong bắp cải là một nhóm hoạt chất có hoạt tính ngăn ngừa ung thư trong đó có UTP. Ăn nhiều thịt, đặc biệt là thịt đỏ rán hoặc rán kỹ, có thể làm tăng nguy cơ UTP và điều này có thể liên quan đến việc hình thành chất nitrosamine gây ung thư trong quá trình nấu ăn. Một phân tích tổng hợp của tám nghiên cứu thuần tập không cung cấp bằng chứng về việc tăng nguy cơ UTP khi ăn nhiều chất béo tổng hoặc chất béo bão hòa.12 Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến nguy cơ UTP theo lượng ước tính của β- carotene hoặc tổng số carotenoid (tương ứng với tổng của α- và β-carotene).13 Trong một báo cáo từ nghiên cứu NIH-AARP, uống cà phê có liên quan đến UTP (HR; 95% CI uống ⩾6 cốc/ngày so với không uống: 4,56 (4,08–5,10)).14 Có một số bằng chứng về tác dụng ngăn ngừa UTP của trà ở những người hút 7 thuốc, đặc biệt là trà xanh.15 Do mối tương quan chặt chẽ giữa việc uống rượu và hút thuốc lá ở nhiều dân số, rất khó để làm sáng tỏ sự đóng góp của rượu vào quá trình bệnh sinh UTP trong khi kiểm soát đúng cách tác động gây nhiễu tiềm ẩn của thuốc lá, vì không có mối liên quan nhất quán nào được quan sát thấy ở những người uống rượu mà không bao giờ hút thuốc.
Phơi nhiễm nghề nghiệp Tiếp xúc nghề nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong căn nguyên UTP, nguy cơ UTP tăng lên ở những người lao động làm việc trong một số ngành và nghề. Hai nghiên cứu đã báo cáo ước tính tỷ lệ các trường hợp UTP do tác nhân nghề nghiệp ở Anh là 14,5% nói chung16 và 12,5% ở nam giới ở Pháp17. Các chất gây UTP do ảnh hưởng của nghề nghiệp quan trọng nhất được báo cáo là: amiăng, silica (một oxid của silic), radon, các kim loại nặng và hydrocacbon thơm đa vòng. Các hợp chất crom làm tăng nguy cơ UTP ở những công nhân sản xuất cromat, nhà sản xuất sắc tố cromat, đĩa crom và nhà sản xuất ferrochromium.
Không có nguy cơ nào như vậy được phát hiện ở những công nhân chỉ tiếp xúc với các hợp chất crom. Các nghiên cứu về thợ mỏ, lò luyện niken, công nhân điện phân và các nhà sản xuất hợp kim niken cao cho thấy nguy cơ UTP tăng lên. Các bằng chứng hiện chưa có không mỗi liên hệ rõ ràng giữa các loại muối niken khác nhau mà công nhân tiếp xúc với UTP.