Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu tác động của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu đậu tương từ thị trường Mỹ của công ty TNHH An Phú Linh Page 13 of 53 Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu đậu tương từ thị trường mỹ của công ty TNHH An Phú Linh Chương 3: Phân tích thực trạng về tác động của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu đậu tương từ thị trường mỹ của công ty TNHH An Phú Linh Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước ảnh hưởng của môi trường kinh doanh. Page 14 of 53 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm kinh doanh quốc tế Có nhiều cách hiểu về kinh doanh quốc tế Thứ nhất, kinh doanh quốc tế là tất cả các giao dịch mang tính thương mại của tư nhân hoặc chính phủ giữa hai hay nhiều quốc gia1.
Các công ty tư nhân thực hiện các giao dịch này vì mục đích lợi nhuận, các chính phủ thực hiện các giao dịch này có thể vì mục đích lợi nhuận hoặc không. Những giao dịch này bao gồm bán hàng, đầu tư, vận tải. Như vậy, theo cách hiểu này, Kinh doanh quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ, hoặc hoạt động đầu tư giữa các chủ thể ở hai hay nhiều quốc gia. Theo một cách hiểu khác, kinh doanh quốc tế là các hoạt động gắn liền với lợi nhuận được thực hiện qua biên giới của quốc gia2.
Một lần nữa, cách hiểu này cho thấy kinh doanh quốc tế bao gồm những hoạt động vượt qua biên giới của quốc gia, được thực hiện vì mục đích sinh lợi. Ngoài ra, cũng có thể hiểu một cách đơn giản kinh doanh quốc tế là việc thực hiện hoạt động đầu tư vào sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi có liên quan tới hai hay nhiều nước và khu vực khác nhau3. Khái niệm này cho thấy những hoạt động cụ thể của kinh doanh quốc tế, bao gồm đầu tư, mua bán hàng hóa và dịch vụ, đó là những hoạt động được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi, có liên quan giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc khu vực khác nhau. Như vậy, từ những cách hiểu trên, có thể định nghĩa kinh doanh quốc tế là những hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể từ hai hay nhiều quốc gia khác nhau nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm những hoạt động như đầu tư, trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ4.
Khái niệm nhập khẩu 1 Marios I.Katsioloudes, Spyros Hadjidakis, International Business – A global perspective, 2007 2 Marios I.Katsioloudes, Spyros Hadjidakis, International Business – A global perspective, 2007 3 TS. Nguyễn Thị Hồng Yến, Giáo trình KDQT, 2011 4 Đại học Thương Mại, Bài giảng KDQT, 2019 Page 15 of 53 Nhập khẩu là hình thức trong đó các doanh nghiệp chọn mua sản phẩm và dịch vụ từ các nguồn cung ứng bên ngoài và mang nó vào thị trường trong nước. Các doanh nghiệp nhập khẩu, cho dù là nhà sản xuất, nhà bán buôn, hay nhà bán lẻ đều được gọi chung là nhà nhập khẩu. Nhập khẩu cũng được nhắc đến như nguồn cung ứng toàn cầu và mua toàn cầu.
Nguồn cung ứng có thể là từ các nhà phân phối độc lập ở nước ngoài, hoặc từ các chi nhánh thuộc quyền sở hữu của công ty hay các chi nhánh hợp tác5. Xét trên phạm vi hẹp, theo Điều 2 Thông tư số 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ Thương mại định nghĩa: “Kinh doanh nhập khẩu thiết bị là toàn bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị và dịch vụ vó liên quan đến thiết bị trong quan hệ bạn hàng với nước ngoài”. Xét trên phạm vi rộng hơn, theo Khoản 1 Điều 28 Luật Thương mại 2005 định nghĩa như sau: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Khái niệm môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh được hiểu là tổng thể các yếu tố, các nhân tố (bên ngoài và bên trong) vận động tương tác lẫn nhau, có tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của DN.
Môi trường kinh doanh là giới hạn không gian mà ở đó DN tồn tại và phát triển. Sự tồn tại và phát triển của bất kì DN nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, với quy mô dù lớn hay nhỏ, cũng là quá trình vận động không ngừng trong một môi trường kinh doanh đầy biến động. Khái niệm môi trường kinh doanh quốc tế Kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh vượt ra khỏi biên giới một quốc gia, và môi trường kinh doanh quốc tế là sự tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc môi trường quốc gia với môi trường nước ngoài; và giữa các yếu tố môi trường nước ngoài của hai quốc gia khi một công ty tại quốc gia này hoạt động kinh doanh với khách hàng ở quốc gia khác6 2. Cơ sở lý luận về môi trường kinh doanh.
Môi trường bên trong 5 Đại học Thương Mại, Bài giảng KDQT, 2019 6 Donald A. (2004), International Business: The challenge of Global competilion / via Đại học Thương Mại, Bài giảng KDQT, 2019 Page 16 of 53 2. Khái niệm môi trường bên trong doanh nghiệp Môi trường bên trong là những gì thuộc về bản thân DN, bao gồm những yếu tố, lực lượng nằm trong nội bộ DN. Những yếu tố này phản ánh điểm mạnh yếu, cũng như cho thấy bản sắc riêng của từng DN.
Các yếu tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp a, Nguồn vốn Vốn là toàn bộ giá trị vật chất được DN đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn có thể là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ được qua thời gian sản xuất kinh doanh, cũng có thể là những của cải mà thiên nhiên ban cho như đất đai, khoáng sản… Có một số cách phân loại vốn trong kinh doanh: - Theo hình thái vốn, có thể chia thành vốn hữu hình như tiền, máy móc, cơ sở vật chất… và vốn vô hình như sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công nghiệp… - Theo đặc điểm luân chuyển vốn, có thể chia thành vốn cố định và vốn lưu động. - Theo quan hệ sở hữu vốn, có thể chia thành vốn sở hữu và vốn vay. - Theo thời gian huy động và sử dụng vốn, có thể chia thành vốn thường xuyên và vốn tạm thời.
b, Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và nó khác với các nguồn lực khác ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội7. Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Trong phạm vi doanh nghiệp, có thể hiểu nguồn nhân lực của một tổ chức là những người lao động làm việc trong tổ chức đó.
Các yếu tố cơ bản của nguồn nhân lực bao gồm: - Số lượng nguồn nhân lực: là lực lượng lao động được huy động trên thực tế để giúp tổ chức hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của mình cũng như để duy trì các hoạt động của tổ chức. 7 Đại học Lao động & Xã hội, Giáo trình Nguồn nhân lực, PGS. Nguyễn Tiệp Page 17 of 53 - Chất lượng nguồn nhân lực: là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực trong tổ chức. - Cơ cấu nguồn nhân lực: gồm cơ cấu theo độ tuổi, theo giới tình, trình độ học vấn… c, Yếu tố khác Ngoài nhân lực và vốn, môi trường bên trong DN còn được cấu thành bởi một số yếu tố khác như quản trị DN hay văn hóa DN.
Môi trường bên ngoài 2. Khái niệm môi trường bên ngoài doanh nghiệp Môi trường bên ngoài là các yếu tố khách quan nằm ngoài DN. Vì là những yếu tố khách quan nên DN không thể thay đổi môi trường bên ngoài mà chỉ có thể phản ứng lại với nó. DN có thể thích nghi hoặc không thích nghi được với môi trường bên ngoài, điều này góp phần quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của DN.
Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp a, Chính trị Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, hệ thống chính trị là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận. Vì vậy, hệ thống chính trị bao gồm các cơ quan luật pháp, các đảng phái chính trị, các nhóm vận động hành lang và các công đoàn8. Trên thế giới, mỗi quốc gia lại chọn cho mình các tổ chức hệ thống chính trị riêng. Trong lịch sử gần đây, hệ thống chính trị trên thế giới được chia thành 3 loại chế độ chính trị, đó là chế độ chuyên chế, chế độ xã hội chủ nghĩa, và chế độ dân chủ.
b, Pháp luật Ở mỗi quốc gia, hệ thống pháp luật bao gồm những văn bản luật và những văn bản dưới luật, tạo nên một khung pháp lý cho phép hoặc hạn chế các mối quan hệ cụ thể giữa con người và các tổ chức, đưa ra các hình phạt cho những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật. Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng của một chế độ chính trị và được hoàn thiện theo thời gian, phù hợp với sự thay đổi và phát triển về mặt xã hội, chính trị, kinh tế và công nghệ của mỗi quốc gia cũng như để phù hợp với luật pháp quốc tế. 8 Đại học Thương Mại, Bài giảng KDQT, 2019 Page 18 of 53 Môi trường pháp luật của hoạt động kinh doanh quốc tế không chỉ là hệ thống luật pháp của một quốc gia mà còn là những quy định pháp lý của các tổ chức quốc tế như các Công ước, Hiệp ước hay các Hiệp định. Ngoài ra còn có những thỏa thuận song phương, đa phương giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc khu vực như thỏa thuận về thương mại, đầu tư hay thỏa thuận đối tác kinh tế,.
c, Kinh tế Môi trường kinh tế bao gồm rất nhiều yếu tố.