Chương 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE KINH TE TRUYEN HÌNH TRA TIEN VA TRUYEN THONG MANG XA HOI 1. Cac khai niém co ban 1. Truyền hình giải tri và đặc điểm truyền hình giải tri 1. Khái niệm Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass Comunication) hay Mass Media gồm có báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo điện tử phát sóng trên mạng internet, sản phẩm thông tin của chúng có tính định kỳ hết sức đa dạng và phong phú.
Bên cạnh đó còn có những sản phẩm không định kỳ của truyền thông như các ấn phẩm của ngành xuất bản, các phương pháp truyền thông trực tiếp như: tuyên truyền miệng, quảng cáo,. Nội dung và tính chat thông tin đều mang tính phé cập và có phạm vi tác động rộng lớn trên toàn xã hội. Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp có nghĩa là “xem được từ xa”. Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là “Television”.
Như vậy dù có phát triển bất cứ đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình có chung một nghĩa: Truyền hình được hiểu là một loại truyền thông đại chúng, truyền tải thông tin bang sóng vô tuyến điện [8]. Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiễn bộ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng của đời sống xã hội. Ngày nay, truyền hình là một phương tiện thiết yêu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng, văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của quốc gia.
Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quan lí và giám sát cac hội, tao lập và định hướng dư luận, giáo dục và phô biến kiến thức, phát trién văn hóa, quảng cáo và dịch vụ khác. Giải trí theo Từ điển Tiếng Việt: “là lam cho đâu óc thánh thoi bằng cách nghỉ ngơi hoặc tham gia các hoạt động vui choi” [26]. 11 Như vậy, có thé hiểu khái niệm truyền hình giải trí như sau: “7ruyễn hình giải trí là loại truyền thông mà thông điệp được truyền trong không gian thích hợp cả hình ảnh va âm thanh làm cho người xem có duoc niềm vui trong cuộc sống”.
Đặc điểm của truyền hình giải tri Truyền hình giải trí mặc dù là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh những đặc điểm chung của báo chí nó còn có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của truyền hình: - Tính thời sự: Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí. Nhưng truyền hình giải trí với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kip thời hơn so với các loại phương tiện khác. Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra thậm chí khi nó đang diễn ra, người xem có thé quan sát một cách chỉ tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình. Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hồi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất.
Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác [6]. Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc “khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, truyền hình trình bày và báo in giảng giải nó”. - Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh Một ưu thế của truyền hình chính là đã truyền tải cả hình ảnh và âm thanh cùng một lúc. Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận băng con đường thị giác, phát thanh băng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác.
Qua các cuộc nghiên cứu người ta thấy 70% lượng thông tin con người thu được là qua thị giác và 20% qua thính giác, còn lại 10% là do các giác quan khác: xúc giác, khứu giác,. Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện [8]. - Tính phổ cập và quảng bá Do những ưư thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc. Cùng với sự phát triên của khoa học và công nghệ 12 truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa.
Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bat kì đâu được đưa lên vệ tinh sẽ truyền đi khắp cả thế giới, được hàng tỉ người biết đến. Ngày nay ngồi tại phòng nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được sự kiện diễn ra trên thế giới [24]. - Khả năng thuyết phục công chúng Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người. Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng.
“Trăm nghe không bằng mắt thấy”, chính truyền hình đã cung cấp những hình ảnh về sự kiện thỏa mãn nhu cầu “thấy” của người xem. Đây là lợi thế lớn của truyền hình so với các loại hình báo in va phát thanh [24]. - Khả năng tác động đến dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân. Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hôi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thay được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng.
Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ. Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo, nên sự tác động dư luận ngày càng rộng rãi. Qua đó người dân có thé nêu lên những ý kiến khen chê, ủng hộ, phản đối, góp ý phê bình về các chương trình truyền hình của đài truyền hình hoặc gửi đi những thắc mắc, bất cập, sai trai ở địa phương. Rất nhiều vụ tham nhũng, lạm dụng quyên hạn đã được người làm báo làm sáng tỏ qua sự phản ánh của nhân dân [24].
Kinh tế truyền hình Trên thế giới, kinh tế truyền hình được xem là một ngành kinh tế, thậm chí là một ngành kinh tế mũi nhọn, siêu lợi nhuận. Đối với các kênh truyền hình trả tiền, nhà đầu tư tham gia là các doanh nghiệp, do đó khi xem xét hoạt động dịch vụ trả tiền cần phải xem xét như hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Tài trợ là nguồn thu đặc thù ở các giai đoạn phát triển sớm của thương mại truyền hình và cũng là một nguồn bảo đảm tài chính cơ bản. Sự khác biệt giữa tài trợ 13 và quảng cáo là các nhà tài trợ chịu hoàn toàn trách nhiệm tài chính đối với việc sản xuất chương trình cũng như mang các quảng cáo đến cho chương trình.
Tài trợ là nguồn thu quan trong của hệ thống truyền hình Việt Nam. Có thé dé dàng nhận biết tài trợ thông qua các logo nhãn hiệu doanh nghiệp, các TVC (đoạn băng) quảng cáo và thông tin doanh nghiệp xuất hiện trong rất nhiều chương trình. Nhờ có nguôn thu tài trợ mà nhiều chương trình được thực hiện không phải trông chờ vào ngân sách Nhà nước. Tài trợ cũng là một trong những nội dung thé hiện mối quan hệ giữa các đài truyền hình với các tổ chức doanh nghiệp bên ngoài, đây cũng là một hình thức xã hội hóa cơ bản.
Theo đó, các công ty truyền thông đại diện quyền lợi cho các nhà quảng cáo sẽ đứng ra đàm phán với đài truyền hình dé thực hiện kế hoạch phát sóng. Ngoài việc nhận tài trợ của các cá nhân, tổ chức, một hình thức quan trọng dé phát triển kinh tế báo chí đối với truyền hình là thu phí các kênh truyền hình lựa chọn. Trong rất nhiều công trinh nghiên cứu về kinh tế học truyền thông khác như: “Kinh tế chính trị truyền thông. Lý thuyết và thực tiền” của A.
Carveth, “Kinh tế chính trị truyền thông. Khám phá thị trường, các ngành công nghiệp và các quan niệm” của A. Albarran, “Kinh tế chính trị công nghiệp giải trí” của G. Volgel, “ Kinh tế chính trị Internet” của McKnight L.
và Bailey J, “Kinh tế và luật báo chí Hoa kỳ” Lacy s., “Kinh tế chính trị truyền hình. Tắm gương của nước Anh" của Collins R. đều đưa ra những khái niệm khác nhau về hoạt động kinh tế truyền thông nói chung và kinh tế truyền hình nói riêng, tuy nhiên các khái niệm đều nhắn mạnh về mối liên hệ giữa các phương tiện thông tin đại chúng - công chủng - các nhà quảng cao. Các tác giả cho rang mối tương tác của các thị trường quảng cáo và nội dung, cầu và cung, cạnh tranh và độc quyền là nên tảng cơ bản của hoạt động kinh tế truyền thông.
Nhìn chung, kinh tế truyền hình có thé hiểu là các hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận bằng dịch vụ truyền hình. Kinh tế truyền hình phản ánh hoạt động hay là mỗi quan hệ con người với con người trong quá trình triển khai các dịch vụ truyền hình và nó vận động theo cơ chế thị trường. Tóm lại, kinh tế truyền hình đó là hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp truyền hình trong quá trình sử dụng con người, cơ sở vật chất kỹ, thuật, tài chính. để di đến hiệu quá tối da mà các doanh nghiệp truyền hình nói riêng và công nghiệp truyền hình nói chung có thể đạt được.
14 So sánh hoạt động kinh doanh của các loại hình truyền thông khác và kinh doanh truyền hình ta có thé thấy kinh tế truyền hình có nhiều đặc trưng cơ bản khác biệt so với các loại hình truyền thông truyền thống khác.