chương 1, tác giả trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khái quát phương pháp nghiên cứu của luận án cũng như những đóng góp mới và kết cấu luận án. luan an 10 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố phi tài chính ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính trong doanh nghiệp kinh doanh khách sạn 2. Các nhân tố phi tài chính bên ngoài Theo lý thuyết của Porter, yếu tố quyết định đầu tiên và quan trọng của hiệu quả được tìm thấy bên ngoài ranh giới của doanh nghiệp.
Những kết luận này đã được xác nhận thông qua nghiên cứu của Schmalensee (1985). Tuy nhiên dòng nghiên cứu về các yếu tố bên ngoài còn tương đối ít trong các nghiên cứu về khách sạn. Các biến số được sử dụng như: các lực lượng kinh tế vĩ mô (Barrows và Naka, 1994; Chen và cộng sự, 2005; Chen M., 2007; Tang và Jang, 2009); các cú sốc như ngày 9/11 (Enz và Canina, 2002) hoặc bệnh dịch hạch nghiêm trọng về hô hấp (Chen và cộng sự, 2007); cấu trúc của ngành hay thị trường (Davies, 1999, Pan, 2005); và loại điểm đến (Reichel và Haber, 2005); văn hóa quốc gia (Nazarian và cộng sự, 2017). Lado- Sestayo và cộng sự (2016) phân tích tác động của cấu trúc thị trường đối với khả năng sinh lời của khách sạn trong một mẫu 8992 khách sạn Tây Ban Nha trong giai đoạn 2005-2011, sử dụng các biến số liên quan đến khách sạn và điểm đến du lịch cùng với mô hình "cấu trúc – đường đi (thực hiện) – hiệu quả" (mô hình SCP) (Bain, 1951, 1956; Mason, 1939, 1949) và Chicago School cùng một lúc (Lado-Sestayo và cộng sự, 2016).
Kết quả cho thấy lợi nhuận phụ thuộc phần lớn vào cơ cấu thị trường và mức độ nhu cầu của địa điểm du lịch và họ xác nhận các đề xuất của SCP. Một số nghiên cứu thực nghiệm khẳng định mối quan hệ tích cực giữa hiệu quả và thị trường tập trung (Pan, 2005), nguồn cung tiền (Barrows và Naka, 1994; Chen M., 2007) và hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm trong nước (Tang và Jang, 2009). Một mối quan hệ tiêu cực đã được tìm thấy với sự thất bại, thất nghiệp và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất hoặc sự lan rộng năng suất. Giải thích tổng thể sức mạnh của các lực lượng kinh tế vĩ mô đối với sự quay trở lại của khách sạn là ít hơn 8-10 % (Barrows và Naka, 1994, Chen M.
Brida và cộng sự đã phân tích mối quan hệ năng động giữa mức độ quốc tế hóa (DOI) và hiệu quả kinh tế (P) trong các doanh nghiệp khách sạn Tây Ban Nha (Brida và cộng sự, 2016). Một tập dữ liệu theo chiều dọc cho giai đoạn 2000-2013 đo các biến số DOI và P đã được sử dụng để tiến hành phân tích hồi quy chuỗi thời gian của FGLS. Các kết quả tìm ra một mối quan hệ đường cong chữ U đảo ngược giữa các biến DOI và P, cho thấy rằng các công ty khách sạn phải đối mặt với chi phí nhập luan an 11 quốc gia mới và quản lý danh mục đầu tư khác nhau của hoạt động kinh doanh. Phân tích có thể cho biết liệu các yếu tố liên quan đến sự phát triển của kiến thức chiến lược quốc tế về chuỗi khách sạn, sự kết hợp của các nhà khai thác mới trong quá trình này hay sự khác biệt giữa giải trí quốc tế và các điểm đến đô thị có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa DOI-P.
Những nghiên cứu về các nhân tố phi tài chính bên ngoài tác động đến hiệu quả tài chính trong các DN khách sạn là hạn chế, bởi tính phức tạp của các yếu tố bên ngoài. Hơn thế nữa, các yếu tố bên ngoài chỉ đại diện cho các tác nhân khách quan mà không phải các yếu tố chủ quan, vì vậy các doanh nghiệp sẽ khó tác động hay điều chỉnh để góp phần nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp mình. Các nhân tố phi tài chính nội bộ 2. Nhóm nhân tố về chiến lược của doanh nghiệp: Tầm quan trọng của quản lý chiến lược và tư duy chiến lược đã được thể hiện trong nhiều nghiên cứu về khách sạn.
Kế hoạch chiến lược vẫn là một công cụ hữu ích cho phát triển kinh doanh khách sạn vì đây là ngành mà cơ sở hạ tầng đòi hỏi nhu cầu về vốn cao, khung thời gian dài với nhiều sự phụ thuộc lẫn nhau. Hơn hai thập kỷ trước, Phillips (1996) nhận thấy rằng một kế hoạch chiến lược then chốt là tích cực và trong hầu hết các trường hợp có liên quan đáng kể đến tính hiệu lực, hiệu quả, khả năng thích ứng và hiệu suất tổng thể. Nghiên cứu của Phillips (Phillips và cộng sự, 1999) về hiệu ứng tương tác của hoạch định chiến lược và hiệu quả của khách sạn đã chứng minh mối quan hệ tích cực thuận chiều giữa hoạch định chiến lược và hiệu quả của khách sạn. Trong đó các thước đo hiệu quả tài chính được sử dụng là lợi nhuận, lợi nhuận trên vốn đầu tư, doanh thu, lợi nhuận trên vốn được sử dụng, mức luân chuyển (quay vòng) hàng tồn kho.
Cũng kiểm tra ảnh hưởng của chiến lược công ty tới hiệu quả tài chính của khách sạn từ góc nhìn của chủ khách sạn, có các tác giả như Bowman và Helfat (2001); Qu‟ Xiao (2007). Qu‟ Xiao còn khám phá được ảnh hưởng của năng lực cốt lõi của chủ sở hữu khách sạn đến hiệu quả tài chính của khách sạn (Xiao, 2007), hay Bowman và Helfat cũng cho kết quả tương tự. Là một chiến lược công ty, đa dạng hóa đã trở thành một công cụ quan trọng cho tăng trưởng của công ty và ảnh hưởng của nó đến hiệu quả công ty đã được kiểm tra và là một chủ đề trọng tâm trong nghiên cứu quản trị chiến lược (Ramanujam và Varadarajan 1989- trích (Xiao, 2007)). Bên cạnh những nghiên cứu cho ảnh hưởng thuận chiều thì có một số nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ tiêu cực (ngược chiều) của chiến lược đa dạng hóa với hiệu quả tài chính như các nghiên luan an 12 cứu của Roegubert và cộng sự, 1996; Berger và Ofek, 1995; Lang và Stulz, 1994; Montgomery, 1994.
Họ cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp có triển vọng tăng trưởng kém có thể nghiêng nhiều hơn về đa dạng hóa. Do đó đa dạng hóa không phải là nguyên nhân chính gây ra hiệu suất kém nhưng hiệu suất kém có thể dẫn đến sự đa dạng hóa (Xiao, 2007). Các yếu tố về chiến lược của doanh nghiệp đã được nghiên cứu như: hoạch định chiến lược, chiến lược đa dạng hóa; chiến lược doanh nghiệp/ năng lực cốt lõi; trách nhiệm với môi trường/ xã hội/ cộng đồng. Một số các nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố về chiến lược đến hiệu quả tài chính các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn được thể hiện trong bảng sau: Bảng 2.1: Bảng tổng hợp nghiên cứu ảnh hƣởng của nhóm nhân tố về chiến lƣợc đến hiệu quả tài chính Chiến lược Trách Chiến nhiệm Hoạch lược Chiến Biến phụ thuộc (hiệu Tác giả, năm định với xã Kết quả nghiên cứu doanh lược đa quả tài chính) hội/ môi chiến nghiệp/ dạng trường/ lược năng lực hóa cộng cốt lõi đồng Phillips và x Lợi nhuận, ROI, Mối quan hệ tích cực cộng sự doanh thu, lợi nhuận thuận chiều giữa hoạch (1999) trên vốn được sử định chiến lược và hiệu dụng, mức luân quả tài chính của khách chuyển (quay vòng) sạn hàng tồn kho.
Xiao Qu x REVPAR (doanh thu Chiến lược công ty và (2007) trên mỗi phòng), năng lực cốt lõi có ảnh NOIPAR (thu nhập hưởng tích cực đến hiệu ròng từ hoạt động kinh quả tài chính (mức độ doanh mỗi phòng) khác nhau) Molina x Tỷ lệ lấp đầy phòng, Các khách sạn có cam Azorin và GOP (tổng lợi nhuận kết mạnh mẽ hơn đối với cộng sự hoạt động), GOPAR các hoạt động môi (2009) mỗi ngày (Tổng lợi trường đạt được mức nhuận hoạt động trên hiệu quả tài chính cao mỗi phòng), tăng thị hơn. phần, tăng trưởng doanh thu trung bình luan an 13 Chiến lược Trách Chiến nhiệm Hoạch lược Chiến Biến phụ thuộc (hiệu Tác giả, năm định với xã Kết quả nghiên cứu doanh lược đa quả tài chính) hội/ môi chiến nghiệp/ dạng trường/ lược năng lực hóa cộng cốt lõi đồng Kang, Lee x ROA, ROE, tỷ lệ giá- Hoạt động của CRS có và Huh thu nhập tác động tích cực đến giá (2010) trị của doanh nghiệp Tari và cộng x Số phòng chiếm, tăng Các khách sạn thân thiện sự (2010) thị phần, tăng trưởng với môi trường đạt mức doanh số trung bình, hiệu quả tài chính cao GOP (tổng lợi nhuận hơn. hoạt động), GOPPAR (tổng lợi nhuận hoạt động trên mỗi phòng) mỗi ngày Bordean và x x RevPar (doanh thu Chiến lược khác biệt tác cộng sự trên mỗi phòng), động tích cực đến (2010) ADR (giá bán phòng RevPar, ADR, tỷ lệ trung bình), tỷ lệ chiếm chỗ, chiến lược chiếm chỗ đào tạo tác động tích cực đến biến tăng trưởng; chiến lược kết hợp tác động đến tổng lợi nhuận Kang x Tobin‟Q; ROA Đa dạng hóa sản phẩm Kyung Ho và đa dạng hóa thương (2011) hiệu có vai trò điều tiết trong mối quan hệ giữa đa dạng hóa địa lý và hiệu quả tài chính khách sạn. Pereira- x Tỷ lệ lấp đầy mỗi Kết quả cho thấy hai loại Moliner và phòng, giá bán phòng hành vi môi trường (tác cộng sự trung bình (ADR), động trở lại và chủ động), (2015) doanh thu trên mỗi với các khách sạn chủ phòng (RevPar), lợi động tác động tích cực nhuận hoạt động trên đến lợi thế cạnh tranh (cả mỗi phòng (Goppar) về chi phí và sự khác biệt) và đạt được mức hiệu quả cao hơn đáng kể.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp luan an 14 2. Nhóm nhân tố về nguồn lực Sự ảnh hưởng của các yếu tố thuộc về nguồn lực hoặc sử dụng nguồn lực đến hiệu quả khách sạn cũng là một trong số các nhóm yếu tố được nghiên cứu. Quan điểm quản trị dựa vào nguồn lực (RBV) cho rằng các doanh nghiệp có các nguồn lực và một tập hợp các tài nguyên độc đáo, hiếm, có giá trị và không dễ thay thế hay có thể bắt chước được, cho phép họ đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững (Penrose 1959, Wernerfelt 1984, Barney, 1991). Các nguồn lực có thể là tài chính, con người, tài sản vô hình, thể chất, tổ chức, hoặc công nghệ.
Lý thuyết quản trị dựa vào nguồn lực còn nhấn mạnh rằng không chỉ các nguồn lực tạo ra một lợi thế cạnh tranh bền vững mà còn phụ thuộc vào việc sử dụng các nguồn lực đó như thế nào.