Nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng và nồng độ leptin huyết thanh ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính

Nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng và nồng độ leptin huyết thanh ở bệnh nhân thận mạn tính trong lọc máu chu kỳ và lọc màng bụng.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

185
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH THẬN MẠN

1.2. Dịch tễ học

1.3. Phân độ giai đoạn bệnh thận mạn

1.4. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh thận mạn

1.5. Chẩn đoán bệnh thận mạn

1.6. Các biến chứng của bệnh thận mạn giai đoạn cuối

1.7. Điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối

1.8. Suy dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn đang lọc máu chu kỳ và lọc màng bụng liên tục ngoại trú

1.9. Tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân bệnh thận mạn trên thế giới và Việt Nam

1.10. Định nghĩa suy dinh dưỡng

1.11. Các nguyên nhân gây suy dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn đang lọc máu chu kỳ và lọc màng bụng liên tục ngoại trú

1.12. Ảnh hưởng của dinh dưỡng trên bệnh nhân bệnh thận mạn đang lọc máu chu kỳ và lọc màng bụng liên tục ngoại trú

1.13. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

1.14. Nguồn gốc và cấu trúc leptin

1.15. Chức năng của leptin

1.16. Tác dụng leptin đối với thận

1.17. Leptin huyết thanh ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối

1.18. Các nghiên cứu leptin huyết thanh trên bệnh nhân bệnh thận mạn

1.18.1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước

1.18.2. Các nghiên cứu ngoài nước

1.18.3. Các nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh

2.3. Tiêu chuẩn loại khỏi nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Các bước tiến hành

2.4.3. Các biến số trong nghiên cứu

2.4.4. Quy trình thực hiện các biến số nghiên cứu

2.4.5. Các tiêu chuẩn chẩn đoán, phân loại, đánh giá sử dụng trong nghiên cứu

2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu

2.4.7. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu

3.2.1. Tình trạng dinh dưỡng theo BMI, SGA_3, albumin và prealbumin

3.2.2. Tỷ lệ thoái biến protein bình thường (nPCR, g/kg/ngày)

3.3. Leptin huyết thanh (ng/mL) của đối tượng nghiên cứu

3.4. So sánh nồng độ các protein với các phương pháp đánh giá dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu

3.4.1. Protein HT, albumin HT, CRPhs và prealbumin HT theo từng nhóm BMI (kg/m2)

3.4.2. Albumin HT, prealbumin HT, leptin HT và CRPhs theo từng nhóm SGA_3

3.4.3. Protein HT, prealbumin HT và creatinin HT theo từng nhóm albumin HT

3.5. Kết quả cận lâm sàng theo từng nhóm nPCR (g/kg/ngày)

3.6. Kết quả lâm sàng và cận lâm sàng theo từng nhóm leptin HT

3.7. Mối tương quan hồi quy hai đối tượng nghiên cứu

3.7.1. Mối tương quan hồi quy đơn biến

3.7.2. Mối tương quan hồi quy đa biến

3.8. Tỷ lệ sống còn và nguy cơ tử vong ghi nhận sau 12 tháng

3.8.1. Tỷ lệ tử vong ghi nhận sau 12 tháng

3.8.2. Tỷ lệ sống còn và nguy cơ tử vong theo BMI sau 12 tháng

3.8.3. Tỷ lệ sống còn và nguy cơ tử vong theo albumin HT trong 12 tháng

3.8.4. Tỷ lệ sống còn và nguy cơ tử vong theo nPCR trong 12 tháng

3.8.5. Tỷ lệ sống còn và nguy cơ tử vong theo leptin HT trong 12 tháng

3.8.6. Phân tích hồi quy đa biến gồm nPCR, prealbumin HT, albumin HT và protein HT liên quan đến tình trạng tử vong trong 12 tháng

MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU, ĐỒ HÌNH, SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về suy dinh dưỡng và nồng độ leptin ở bệnh nhân thận mạn

Suy dinh dưỡng là một vấn đề nghiêm trọng ở bệnh nhân bệnh thận mạn, đặc biệt là những người đang lọc máu. Nghiên cứu cho thấy rằng tình trạng dinh dưỡng kém có thể làm tăng nguy cơ tử vong và làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh lý thận. Nồng độ leptin, một hormon quan trọng trong việc điều hòa năng lượng và chuyển hóa, có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng dinh dưỡng. Việc hiểu rõ mối liên hệ giữa suy dinh dưỡng và nồng độ leptin là cần thiết để cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa suy dinh dưỡng ở bệnh nhân thận mạn

Suy dinh dưỡng được định nghĩa là tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến giảm chức năng cơ thể. Ở bệnh nhân thận mạn, suy dinh dưỡng có thể do nhiều nguyên nhân như chế độ ăn uống không đủ, mất protein qua lọc máu, và tình trạng viêm mãn tính. Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng thường dựa vào các chỉ số như BMI, albumin huyết thanh và nồng độ leptin.

1.2. Vai trò của leptin trong cơ thể và bệnh thận

Leptin là một hormon được sản xuất chủ yếu bởi mô mỡ, có vai trò quan trọng trong việc điều hòa cảm giác đói và tiêu hao năng lượng. Nghiên cứu cho thấy nồng độ leptin có thể tăng cao ở bệnh nhân thận mạn, điều này có thể liên quan đến tình trạng viêm và kháng insulin. Sự thay đổi nồng độ leptin có thể ảnh hưởng đến chức năng thận và tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân.

II. Vấn đề suy dinh dưỡng ở bệnh nhân thận mạn đang lọc máu

Bệnh nhân thận mạn đang lọc máu thường gặp phải tình trạng suy dinh dưỡng do nhiều yếu tố như chế độ ăn uống hạn chế, mất protein qua quá trình lọc máu và tình trạng viêm mãn tính. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể mà còn làm tăng nguy cơ tử vong. Việc nhận diện và điều trị kịp thời tình trạng suy dinh dưỡng là rất quan trọng.

2.1. Nguyên nhân gây suy dinh dưỡng ở bệnh nhân lọc máu

Nguyên nhân chính gây suy dinh dưỡng ở bệnh nhân lọc máu bao gồm chế độ ăn uống không đủ dinh dưỡng, mất protein qua lọc máu, và tình trạng viêm mãn tính. Các yếu tố này có thể dẫn đến giảm nồng độ albumin huyết thanh và tăng nguy cơ tử vong.

2.2. Tác động của suy dinh dưỡng đến sức khỏe bệnh nhân

Suy dinh dưỡng có thể làm giảm khả năng miễn dịch, tăng nguy cơ nhiễm trùng và làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh thận. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân thận mạn có tình trạng dinh dưỡng kém thường có tỷ lệ tử vong cao hơn so với những người có tình trạng dinh dưỡng tốt.

III. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân thận mạn

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân thận mạn là rất quan trọng để xác định mức độ suy dinh dưỡng và đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời. Các phương pháp đánh giá bao gồm chỉ số khối cơ thể (BMI), nồng độ albumin huyết thanh, và nồng độ leptin huyết thanh.

3.1. Các chỉ số lâm sàng trong đánh giá dinh dưỡng

Các chỉ số lâm sàng như BMI, albumin huyết thanh và prealbumin huyết thanh thường được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Những chỉ số này giúp xác định mức độ suy dinh dưỡng và đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp.

3.2. Đánh giá nồng độ leptin huyết thanh

Nồng độ leptin huyết thanh có thể phản ánh tình trạng dinh dưỡng và mức độ viêm ở bệnh nhân thận mạn. Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ leptin cao có thể liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng và tăng nguy cơ tử vong.

IV. Kết quả nghiên cứu về suy dinh dưỡng và leptin ở bệnh nhân thận mạn

Nghiên cứu cho thấy rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa tình trạng suy dinh dưỡng và nồng độ leptin huyết thanh ở bệnh nhân thận mạn. Những bệnh nhân có nồng độ leptin cao thường có tình trạng dinh dưỡng kém và tỷ lệ tử vong cao hơn. Việc theo dõi nồng độ leptin có thể giúp cải thiện quản lý dinh dưỡng cho bệnh nhân.

4.1. Mối liên hệ giữa nồng độ leptin và tình trạng dinh dưỡng

Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ leptin huyết thanh có thể tăng cao ở bệnh nhân suy dinh dưỡng. Điều này có thể do tình trạng viêm và kháng insulin, làm giảm khả năng sử dụng leptin của cơ thể.

4.2. Tác động của nồng độ leptin đến tỷ lệ tử vong

Nồng độ leptin cao có thể là yếu tố dự đoán nguy cơ tử vong ở bệnh nhân thận mạn. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân có nồng độ leptin cao thường có tỷ lệ tử vong cao hơn trong vòng 12 tháng.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong nghiên cứu

Nghiên cứu về suy dinh dưỡng và nồng độ leptin ở bệnh nhân thận mạn đang lọc máu là rất cần thiết để cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn mối liên hệ giữa các yếu tố này và tìm ra các biện pháp can thiệp hiệu quả.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải thiện dinh dưỡng

Cải thiện tình trạng dinh dưỡng có thể giúp giảm nguy cơ tử vong và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân thận mạn. Việc áp dụng các biện pháp dinh dưỡng hợp lý là rất cần thiết.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa nồng độ leptin và tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân thận mạn. Các nghiên cứu này có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân.

17/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng và nồng độ leptin huyết thanh ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính đang lọc máu chu kỳ và lọc màng bụng liên tục ngoại trú

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH THẬN MẠN 1. Dịch tễ học Mỹ, thống kê của tổ chức khảo sát đánh giá sức khỏe và dinh dưỡng Hoa Kỳ (NHANES) về tỷ lệ bệnh nhân bệnh thận mạn (BTM) càng lúc càng tăng trong những năm gần đây. BTM đối với người lớn chiếm tỷ lệ qua các năm như sau: từ năm 1999 đến 2014 tỷ lệ BTM tăng theo thời gian.

Tỷ lệ bệnh nhân BTM từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5 như sau: từ năm 1999-2002 có 13,9% (12,9-14,8%), 2003-2006 có đến 14,4% (13,1-15,7%), 2007-2010 có đến 13,4% (12,6-14,2%) và 2011-2014 có đến 14,8% (13,6-16,0%) mắc BTM [140]. Tăng tỷ lệ BTM, tại Mỹ ở những đối tượng lớn hơn hoặc bằng 66 tuổi. Tỷ lệ tử vong ở đối tượng bệnh nhân BTM từ 66 tuổi hoặc lớn hơn có giảm 31,5% kể từ năm 2002, từ 197 người chết trong 1,000 bệnh nhân/năm còn 135 người chết trong năm 2014 [140]. Canada, Arora Paul MSc và cộng sự, ghi nhận, tỷ lệ mới mắc hàng năm BTM giai đoạn 3 - 5 chiếm khoảng 12,5% dân số trong khoảng thời gian từ năm 2007 – 2009 [141].

Ấn Độ, tỷ lệ hiện mắc BTM các giai đoạn 3 năm 2015 là 6,3% thường gặp nhiều nhất là công nhân ở các vùng nông thôn và nguyên nhân thường gặp do biến chứng của bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp [142]. Năm 2009, theo một báo cáo tại Hàn Quốc cho thấy tỷ lệ bệnh nhân BTM càng lúc càng tăng, tỷ lệ BTM chiếm 10-13% đối với các nước như: Hàn Quốc, Đài Loan, Iran, Nhật Bản, Trung Quốc, Canada, Ấn Độ và Mỹ. Số lượng này tiếp tục tăng hàng năm khi mà tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường và THA tiếp tục tăng [143]. Định nghĩa Bệnh thận mạn (BTM) là tình trạng tổn thương thận về cấu trúc hoặc chức năng, tồn tại trên 3 tháng, biểu hiện bởi albumin niệu, hoặc các bất thường về hình ảnh học hoặc suy giảm chức năng thận được xác định thông qua mức lọc cầu thận < 60 ml/phút/ 1,73 m2 [48].

Tiêu chuẩn chẩn đoán BTM theo Hội thận học Hoa Kì NKF-KDOQI (triệu chứng tồn tại > 3 tháng) [48]. Dấu ấn tổn thương thận - Albumin niệu (albumin niệu ≥ 30 mg/24 giờ; tỉ lệ (≥ 1 dấu ấn) albumin/ creatinine ≥ 30 mg/g hoặc 3 mg/mmol) - Bất thường tổng phân tích nước tiểu - Rối loạn điện giải hoặc các bất thường khác do bệnh lí ống thận. - Bất thường phát hiện bằng mô học. - Bất thường về cấu trúc phát hiện bằng hình ảnh học - Tiền sử ghép thận Giảm mức lọc cầu thận < 60 ml/phút/ 1,73 m 2 1.

Phân độ giai đoạn bệnh thận mạn Trải qua hơn 12 năm kể từ khi Hội thận học Hoa Kì công bố hướng dẫn về chẩn đoán, phân loại và chiến lược điều trị bệnh thận mạn, phân độ BTM đã được cập nhật nhiều lần: 2002, 2009 và hiện nay là 2012 [48]. Phân độ giai đoạn BTM theo Hội thận học Hoa Kì 2012 [48] Mức lọc cầu thận Giai đoạn Mô tả (ml/phút/1,73 m2) 1 ≥ 90 Bình thường hoặc cao 2 60 – 89 Giảm nhẹ 3a 45 – 59 Giảm nhẹ- trung bình 3b 30 – 44 Giảm trung bình-nặng 4 15 – 29 Giảm nặng 5 < 15 Suy thận 5 Trong đó mức lọc cầu thận được khuyến cáo tính theo công thức CKD – EPI 2009. Có nhiều công thức ước tính mức lọc cầu thận như công thức Cockcroft- Gault, công thức MDRD, công thức cystatin C với CDK-EPI… Tuy nhiên, công thức CKD- EPI được Hội Thận học Hoa Kì khuyến cáo nên dùng. Thực chất đây là công thức cải tiến từ MDRD, tuy nhiên qua nhiều nghiên cứu với các đối tượng suy thận lẫn không suy thận, mức lọc cầu thận ước tính theo CKD-EPI có kết quả như MDRD với MLCT < 60 ml/phút/1,73 m2 và chính xác hơn MDRD với MLCT > 60 ml/phút/1,73 m2 [48].

Công thức CKD-EPI 2009: MLCT (ml/phút/1,73 m2) = 141 x min(sCr/k,1)α x max(sCr/k,1)-1,209x 0,993tuổi Nếu là nữ giới: x 1,118 Nếu là người da màu: x 1,159 Trong đó: sCr: nồng độ creatinine máu (mg/dl) k: nữ = 0,7; nam = 0,9 α: nữ = -0,329; nam = -0,411 min: số nhỏ nhất của sCr/k hoặc 1 max: số lớn nhất của sCr/k hoặc 1 1. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh thận mạn 1. Các nguyên nhân gây bệnh thận mạn - Bệnh cầu thận nguyên phát: viêm cầu thận khu trú từng ổ, từng đoạn; viêm cầu thận màng tăng sinh lan tỏa; bệnh cầu thận IgA; viêm cầu thận màng… - Bệnh cầu thận thứ phát: bệnh thận đái tháo đường, bệnh thận dạng bột, viêm cầu thận sau nhiễm khuẩn, bệnh cầu thận do HIV, bệnh mạch thận collagen, bệnh thận tế bào hình liềm, viêm cầu thận màng tăng sinh lan tỏa do HIV, bệnh hệ thống-tự miễn… - Viêm ống thận kẽ: do thuốc, do dị ứng, do ngộ độc kim loại nặng… - Bệnh thận do di truyền: bệnh thận đa nang, bệnh nang tủy, hội chứng Alport… 6 - Bệnh thận do tắc nghẽn: bệnh tiền liệt tuyến, sỏi thận, xơ hóa sau phúc mạc hoặc u sau phúc mạc, bẩm sinh… - Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, xơ hóa mạch thận, hẹp mạch thận - Giảm khối lượng thận - Thể trọng thấp khi sinh [48]. Các yếu tố dịch tễ xã hội - Lớn tuổi - Chủng tộc: người Mỹ gốc Phi, người Ấn gốc Mỹ, người sống các bán đảo Tây Ban Nha, Châu Á hoặc Châu Đại Dương.

- Phơi nhiễm với vài hóa chất hoặc điều kiện môi trường. - Thu nhập thấp hoặc trình độ thấp [48]. Chẩn đoán bệnh thận mạn 1. Lâm sàng - Phù: từ mức độ nhẹ đến nặng - Thiếu máu mạn, mức độ nặng dần nếu không được điều trị - Tăng huyết áp: chiếm khoảng 80% - Suy tim - Rối loạn tiêu hóa - Xuất huyết: có thể ngoài da, chân răng hoặc nội tạng - Viêm màng ngoài tim - Ngứa - Chuột rút - Hôn mê [48].

Cận lâm sàng Có nhiều xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định BTM cũng như giai đoạn BTM như thiếu máu đẳng sắc với kích thước hồng cầu bình thường, kích thước thận giảm (chiều cao < 9 cm trên siêu âm hoặc < 3 đốt sống trên phim 7 thận không chuẩn bị), nhưng chủ yếu vẫn dựa vào nồng độ creatinine máu và hệ số thanh thải creatinine (bảng 1.2 và công thức CKD-EPI) [48]. Các biến chứng của bệnh thận mạn giai đoạn cuối 1. Thiếu máu Thiếu máu là sự giảm một hoặc nhiều các thành phần tạo nên hồng cầu: hemoglobin, hematocrit, hoặc số lượng hồng cầu. Theo Hội thận học Hoa Kì, thiếu máu là khi Hb < 13 g/dl đối với nam và < 12 g/dl đối với nữ.

Thiếu máu ở BN BTM đa số là thiếu máu đẳng sắc, hồng cầu bình thường, tập trung chủ yếu vào nhóm bệnh thận mạn giai đoạn cuối (khoảng ¾ bệnh nhân) [53]. Có nhiều nguyên nhân gây thiếu máu ở BN BTM như thiếu sắt, axit folic hoặc vitamin B12, xuất huyết tiêu hóa, cường tuyến cận giáp, đời sống hồng cầu giảm, quan trọng nhất là sự giảm tổng hợp erythropoietin- hormon do tổ chức cạnh cầu thận tiết ra có vai trò chuyển nguyên hồng cầu thành hồng cầu trưởng thành trong máu [48]. Rối loạn chuyển hóa xương và khoáng chất Thuật ngữ “rối loạn chuyển hóa xương và khoáng chất” bao gồm những bất thường trong chuyển hóa xương và khoáng chất và/hoặc tình trạng canxi hóa thứ phát các mô ngoài xương do nguyên nhân thận. Loạn dưỡng xương do thận là sự thay đổi cấu trúc xương ở bệnh nhân bệnh thận mạn.

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng này như thiếu vitamin D, tăng phospho máu, giảm canxi máu, cường tuyến cận giáp thứ phát… Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản vẫn do sự suy giảm chức năng thận. Sự phát triển của các phương pháp điều trị thay thế thận suy giúp kéo dài đời sống của bệnh nhân BTM, tuy nhiên các biến chứng ít được quan tâm như rối loạn chuyển hóa xương và khoáng chất lại ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh và làm tăng tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân BTM. Sự thật là tình trạng tăng phospho máu là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến các bệnh lí tim mạch ở nhóm đối tượng này [48]. Các nguy cơ tim mạch Các nguy cơ tim mạch có liên quan chặt chẽ với BTMGĐC.

Các nguy cơ tim mạch bao gồm THA, đái tháo đường, suy tim, thiếu máu, bệnh mạch vành, mất cân bằng canxi-phospho, canxi hóa thành mạch…[48]. Các rối loạn lipid máu Rối loạn lipid máu là một nguy cơ lớn đối với tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong các bệnh lí tim mạch trong cộng đồng nói chung và nhóm bệnh nhân mắc BTM nói riêng. Các thành phần lipid thay đổi theo tỉ lệ khác nhau, nhưng chủ yếu là tăng cholesterol toàn phần và triglycerid. Bệnh nhân BTM, hoạt động của men lipoprotein lipase và hepatic triglycerit lipase bị giảm.

Điều này ảnh hưởng đến sự chuyển hóa các lipoprotein giàu triglycerid và chứa apo-lipoprotein-B bởi gan và các mô ngoại biên, là căn nguyên của chứng vữa xơ động mạch. Tăng cholesterol máu trong hội chứng thận hư gây ra do tăng sản xuất và giảm thoái hóa lipoprotein. Tuy nhiên, sự thay đổi lipid cũng bị ảnh hưởng bởi albumin máu và protein niệu trong việc duy trì áp lực keo. Đây cũng là cơ sở cho việc điều trị [53].

Vấn đề liên quan đến dinh dưỡng Dinh dưỡng là vấn đề quan trọng và thường không được chú trọng ở các bệnh lí mạn tính, trong đó có bệnh thận, trong khi ảnh hưởng của nó lại rất sâu và lâu dài. Bệnh nhân BTM, cùng với sự tiến triển qua các giai đoạn bệnh là sự đòi hỏi thay đổi chế độ dinh dưỡng để phù hợp với các rối loạn chuyển hóa protid, nước, muối, canxi, kali và phospho. Đa số bệnh nhân ít quan tâm đến vấn đề này mặc dù nguồn thức ăn hằng ngày vẫn đảm bảo protid và carbohydrate [53]. Điều trị bệnh thận mạn giai đoạn cuối Hiện nay có các phương pháp điều trị cơ bản được đặt ra: 1.

Điều trị bảo tồn Điều trị bảo tồn hay còn gọi là điều trị nội khoa, được áp dụng đối với các BN BTM tất cả các giai đoạn: từ giai đoạn 1 đến 5, giai đoạn có can thiệp 9 với lọc máu chu kì, hoặc lọc màng bụng liên tục, hoặc ghép thận. Riêng đối với BN BTMGĐC (giai đoạn G5), chỉ định trong các trường hợp sau: Bệnh nhân đang giai đoạn cấp của BTM với các rối loạn dinh dưỡng, mất cân bằng nước- điện giải, thiếu máu, các biến chứng tim mạch: cơn tăng huyết áp, phù phổi cấp, hen tim, rối loạn nhịp tim… Bệnh nhân BTMGĐC chuẩn bị điều trị can thiệp với LMCK, hoặc LMBLT, hoặc ghép thận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu suy dinh dưỡng và nồng độ leptin ở bệnh nhân thận mạn lọc máu" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa tình trạng dinh dưỡng và nồng độ leptin ở những bệnh nhân đang điều trị thận mạn. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định mức độ suy dinh dưỡng mà còn chỉ ra vai trò của leptin trong việc điều chỉnh cân nặng và sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Những thông tin này rất hữu ích cho các bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng trong việc xây dựng chế độ ăn uống phù hợp và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về tình trạng dinh dưỡng trong các bệnh lý khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của người bệnh suy thận mạn chưa lọc máu điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa xanh pôn 2018, nơi cung cấp thông tin chi tiết về dinh dưỡng ở bệnh nhân suy thận. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư điều trị bằng hóa chất tại bệnh viện quân y 103 năm 2018 cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về dinh dưỡng trong bối cảnh điều trị ung thư. Cuối cùng, tài liệu Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân di chứng tai biến mạch máu não đang được nuôi ăn qua sonde mũi dạ dày bằng phương pháp sga subjective global assessment sẽ cung cấp thêm thông tin về dinh dưỡng ở bệnh nhân tai biến, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.