Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đại cương về ung thư 1. Định nghĩa Ung thư là một thuật ngữ để xác định bệnh trong đó các tế bào bất thường phát triển mà không kiểm soát được, các tế bào này phát triển và xâm nhập vào tế bào khác và lan truyền đến các vị trí khác nhau trong cơ thể gây bệnh và nếu không được điều trị có thể dẫn đến tử vong [56]. Phân loại Ung thư là từ chung mô tả trên 200 loại khác nhau được biết đến trên cơ thể người chia làm 5 nhóm theo tên của tế bào mà chúng bắt đầu: Ung thư biểu mô Ung thư mô liên kết Ung thư hệ bạch huyết và đa u tủy Ung thư tế bào máu Ung thư não và tủy sống Đa số ung thư là bệnh có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát sinh và phát triển qua từng giai đoạn.
Trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể do đột biến gen từ lúc bào thai còn phần lớn các ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài có khi hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thấy dưới dạng khối u, lúc này khối u phát triển nhanh và mới có các triệu chứng của bệnh. Triệu chứng đau thường xuất hiện khi bệnh đã ở giai đoạn cuối [9]. Các giai đoạn ung thư Hầu hết các loại ung thư có bốn giai đoạn: giai đoạn I (một) đến IV (bốn), một số bệnh ung thư cũng có giai đoạn 0 (zero). - Giai đoạn 0: Các tế bào bất thường có mặt nhưng không lây lan sang các mô lân cận.
Giai đoạn này của ung thư thường được chữa trị cao, hầu hết được loại bỏ toàn bộ khối u bằng cách phẫu thuật. 5 - Giai đoạn I: Giai đoạn này thường là một khối u nhỏ hoặc khối u không phát triển sâu vào các mô lân cận, nó cũng không lan rộng tới các hạch bạch huyết hoặc các bộ phận khác của cơ thể. Nó thường được gọi là ung thư giai đoạn sớm. - Giai đoạn II và III: Các giai đoạn này cho thấy ung thư hoặc khối u lớn hơn đã phát triển sâu hơn vào các mô gần đó, chúng cũng có thể lan tới các hạch bạch huyết nhưng không lan sang các phần khác của cơ thể.
- Giai đoạn IV: Giai đoạn này có nghĩa là ung thư đã lan ra các cơ quan khác hoặc các bộ phận khác của cơ thể. Nó cũng thường được gọi là ung thư di căn [71]. Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay - Điều trị phẫu thuật - Điều trị tia xạ - Điều trị hóa chất - Các phương pháp khác: Điều trị miễn dịch (miễn dịch thụ động không đặc hiệu và miễn dịch chủ động không đặc hiệu); điều trị ung thư đích [11]. Điều trị hóa chất Khái niệm Điều trị hóa chất là một trong các biện pháp điều trị ung thư mang tính chất toàn thân.
Bên cạnh các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng như phẫu thuật và xạ trị, các biện pháp điều trị toàn thân ngày càng có những đóng góp quan trọng trong điều trị và chăm sóc bệnh nhân ung thư [8]. Điều trị hóa chất (chemotherapy) thường được hiểu như là phương pháp điều trị ung thư bằng thuốc hóa học gây độc tế bào (cytotoxix drugs) để phân biệt với điều trị nội tiết (hormonotherapy) dùng các tác nhân nội tiết và điều trị sinh học (biologictherapy) dùng các tác nhân đáp ứng sinh học (biologicmodulators). Thực ra sự phân định trên chỉ có tính chất tương đối vì hiệu quả của tất cả các biện pháp điều trị toàn thân trên đều thông qua cơ chế tác động cuối cùng là làm thay đổi đáp ứng sinh học của cơ thể theo hướng chống ung thư. Hơn nữa, tất cả các tác nhân điều trị toàn thân (thuốc gây độc tế bào, nội tiết hay miễn dịch, sinh học.) đều có 6 bản chất hóa học.
Do vậy người ta thường phát triển khái niệm điều trị hóa chất như là biện pháp điều trị toàn thân bằng các thuốc hóa học [8]. Phương pháp điều trị hóa chất Từ khi bắt đầu tiến triển, ung thư đã có thể cho di căn, do đó các phương pháp điều trị tại chỗ và tại vùng như phẫu thuật và xạ trị thường không mang lại hiệu quả. Sử dụng các thuốc điều trị ung thư đặc biệt là các hóa chất chống ung thư có thể ngăn chặn được tiến triển của ung thư. Hóa chất chống ung thư đều là những chất gây độc tế bào.
Điều trị hóa chất dựa trên sự đáp ứng khác biệt nhau giữa tế bào ung thư và tế bào lành. Đặc trưng tăng trưởng của ung thư có ảnh hưởng rất lớn đến đáp ứng với hóa trị. Các hiểu biết về động học tế bào, sự tăng trưởng của khối u, sinh học ung thư là căn bản cho các nguyên tắc hóa trị lâm sàng. Hóa trị gây đáp ứng (induction chemotherapy) áp dụng đối với các loại ung thư đã ở giai đoạn muộn.
Hóa trị hỗ trợ (adjuvant chemotherapy) sau khi điều trị phẫu thuật, tia xạ các ung thư đang còn tại chỗ và tại vùng. Hóa trị tân hỗ trợ (neoadjuvant chemotherapy) hóa trị được thực hiện trước khi điều trị tại chỗ và tại vùng. Hóa trị tại chỗ: nhằm mục đích làm tăng nồng độ thuốc tại khối u bằng cách bơm thuốc vào các xoang, hốc của cơ thể hoặc bơm thuốc trực tiếp vào động mạch nuôi khối u. Chỉ định điều trị hóa trị còn dựa vào nhiều yếu tố như giai đoại bệnh, loại bệnh học, tuổi của bệnh nhân, các phương pháp đã được điều trị trước đó, thể trạng bệnh nhân để xác định chỉ định cụ thể của hóa trị.
Phải luôn luôn cân nhắc một bên là lợi ích của hóa trị và một bên là độc tính và những nguy hiểm có thể xảy ra. Bên cạnh khả năng có thể điều trị khỏi một số ung thư, hóa trị có thể giúp làm giảm thiểu một số triệu chứng liên quan đến ung thư và từ đó làm tăng chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân ung thư [11]. Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư điều trị hóa chất 1. Một số khái niệm Tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hóa sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai. Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng [3]. Suy dinh dưỡng (SDD) Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới (WHO) Suy dinh dưỡng là sự mất cân bằng trong cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng so với nhu cầu của cơ thể tại các tế bào nhằm đảm bảo sự phát triển, duy trì hoạt động các chức năng chuyên biệt của chúng [5].
Sụt cân ở người bệnh ung thư Sụt cân là dấu hiệu thường gặp ở bệnh nhân ung thư nói chung và bệnh nhân ung thư điều trị hóa trị nói riêng. Sụt cân có thể xuất hiện trước khi chẩn đoán hay trong và sau khi điều trị, và là một trong những dấu hiệu quan trọng của suy mòn trong ung thư [39]. Sụt cân ở bệnh nhân ung thư thường là hậu quả của việc giảm lượng chất dinh dưỡng hoặc giảm hấp thu chất dinh dưỡng hoặc là do mất khối mỡ và khối cơ vân. Có đến 50% bệnh nhân ung thư bị tiêu dần khối mỡ và khối cơ vân, từ đó dẫn đến sụt cân, điều này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả điều trị và làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Tùy vào từng loại ung thư, sụt cân xảy ra với tần suất khoảng 30 – 80% bệnh nhân ung thư [74]. Sụt cân là yếu tố quan trọng trong việc chẩn đoán và tiên lượng điều trị ung thư. Mức độ sụt cân ở bệnh nhân ung thư càng nhiều thì thời gian sống sót càng 8 ngắn hay nói một cách khác sụt cân tỷ lệ thuận với thời gian sống sót ở người bệnh ung thư [74]. Theo một nghiên cứu đã chỉ ra rằng trọng lượng thay đổi 2,5 kg trong vòng 6 – 8 tuần là đủ để tạo ra những thay đổi đáng kể về tình trạng hoạt động và tử vong thường xảy ra khi có giảm cân khoảng 30% trọng lượng của cơ thể [34].
Trong nghiên cứu của Sanschez Lara Karla, tần suất giảm cân của bệnh nhân ung thư điều trị hóa trị có thể lên tới 63,3% với các mức độ khác nhau trong đó 38,7% bệnh nhân giảm ≥ 5% cân nặng liên quan đến tình trạng buồn nôn, nôn và chán ăn; 24,6% bệnh nhân giảm ≥ 10% liên quan tới nôn và chán ăn [63]. Suy dinh dưỡng ở người bệnh ung thư SDD là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ung thư và có thể là triệu chứng đầu tiên để lộ ra sự hiện diện của bệnh. Ngay cả trước khi bắt đầu điều trị ung thư, bệnh nhân có thể đã trải qua những thay đổi về chuyển hóa và sinh lý sâu sắc với nhu cầu tăng cường các chất dinh dưỡng [40]. Tỷ lệ suy dinh dưỡng có sự thay đổi tùy thuộc vào khối u, giai đoạn bệnh, các bệnh kèm theo cũng như phương pháp điều trị đối với bệnh nhân ung thư.
SDD ở bệnh nhân ung thư dao động từ 15 – 80% [78] với các triệu chứng chính bao gồm giảm cân và suy nhược ở mức độ khác nhau [65]. SDD làm trì hoãn cơ hội điều trị phẫu thuật, hóa trị và xạ trị ở người bệnh ung thư liên quan đến kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ tử vong [9],[77]. Theo nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư đại tràng điều trị hóa trị trước phẫu thuật cho thấy 51% bệnh nhân có SDD trong đó 79% bệnh nhân SDD đã ngừng điều trị hóa trị, trong số bệnh nhân SDD ngừng điều trị hóa trị thì có 48% bệnh nhân nhận được liều đầy đủ của hóa trị. Có mối quan hệ giữa SDD sau điều trị hóa trị với việc ngừng điều trị hóa trị.
Những kết quả này cũng chỉ ra rằng chán ăn và tiêu chảy do hóa trị liệu gây ra SDD và giảm liều [79].