Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân di chứng tai biến mạch máu não đang được nuôi ăn qua sonde mũi dạ dày bằng phương pháp sga subjective global assessment

Chuyên khảo phân tích Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân di chứng tai biến mạch máu não đang được nuôi ăn qua, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Lão Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Chuyên Khoa Cấp II

2016

106
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tai biến mạch máu não

1.2. Bệnh thận mạn

1.3. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

1.4. Phương pháp dinh dưỡng qua ống sonde mũi dạ dày

1.5. Những ảnh hưởng của suy dinh dưỡng

1.6. Các nghiên cứu đánh giá dinh dưỡng bằng phương pháp SGA

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Xử lý số liệu thống kê

2.4. Y đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm dinh dưỡng bệnh nhân

3.3. Mối liên quan giữa các phương pháp đánh giá và kết quả điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm dinh dưỡng ở bệnh nhân di chứng TBMMN được nuôi ăn qua ống sonde mũi dạ dày và mối liên quan với giới tính, tuổi, bệnh lý nền (THA, BTM, ĐTĐ)

4.3. Sự liên quan giữa các phương pháp đánh giá dinh dưỡng và kết quả điều trị

4.4. Hạn chế của nghiên cứu

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Phiếu thu thập số liệu

Phụ lục 2. Bảng SGA

Phụ lục 3. Hướng dẫn đánh giá SGA

Phụ lục 4. Danh sách bệnh nhân nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Dinh Dưỡng ở Bệnh Nhân Tai Biến

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, gây tử vong và tàn phế cao. Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi của bệnh nhân TBMMN. Tình trạng suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ loét tỳ đè, viêm phổi và kéo dài thời gian nằm viện. Ngược lại, các di chứng của TBMMN cũng gây khó khăn trong việc ăn uống, dẫn đến suy dinh dưỡng. Do đó, việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN là vô cùng cần thiết để có chế độ dinh dưỡng phù hợp, thúc đẩy quá trình hồi phục. Theo thống kê của Hội Phòng chống tai biến mạch máu não, trong số bệnh nhân TBMMN sống sót, có tới 92% mắc di chứng về vận động, 68% biến chứng vừa và nhẹ, 27% di chứng nặng.

1.1. Tầm Quan Trọng của Dinh Dưỡng cho Bệnh Nhân Đột Quỵ

Dinh dưỡng hợp lý giúp duy trì chức năng tế bào, tăng cường hệ miễn dịch và thúc đẩy khả năng hồi phục sau TBMMN. Rối loạn nuốt, một biến chứng thường gặp sau TBMMN, có thể dẫn đến sụt cân, suy dinh dưỡng và viêm phổi. Việc cung cấp dinh dưỡng đầy đủ và phù hợp với khả năng nhai nuốt của bệnh nhân là yếu tố then chốt trong quá trình điều trị. Theo nghiên cứu, rối loạn nuốt có thể xuất hiện đến 65% bệnh nhân tai biến mạch máu não, dẫn đến sụt cân, suy dinh dưỡng, dễ bị viêm phổi và làm nặng thêm tình trạng mất chức năng.

1.2. Các Phương Pháp Đánh Giá Tình Trạng Dinh Dưỡng Hiện Nay

Có nhiều phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng, từ các chỉ số nhân trắc đơn giản như BMI đến các phương pháp phức tạp hơn như SGA (Subjective Global Assessment) và xét nghiệm máu (albumin, prealbumin). Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng, và việc kết hợp nhiều phương pháp giúp đánh giá toàn diện hơn. SGA được khuyến nghị là công cụ đánh giá nhanh tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân nhập viện [30], vì không xâm lấn, không tốn kém, lại có độ nhạy cao (98%) và độ đặc hiệu cao (82%) [17, 21, 39].

II. Thách Thức Trong Đánh Giá Dinh Dưỡng Bệnh Nhân TBMMN

Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN gặp nhiều khó khăn do tình trạng bệnh lý phức tạp, khả năng giao tiếp hạn chế và các biến chứng đi kèm. Rối loạn nuốt, liệt vận động và suy giảm nhận thức ảnh hưởng đến khả năng ăn uống và hấp thu dinh dưỡng. Ngoài ra, các bệnh lý nền như tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh thận mạn cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân. Do đó, cần có phương pháp đánh giá phù hợp và toàn diện để xác định chính xác tình trạng dinh dưỡng và đưa ra can thiệp kịp thời.

2.1. Ảnh Hưởng của Rối Loạn Nuốt Đến Tình Trạng Dinh Dưỡng

Rối loạn nuốt là một biến chứng thường gặp sau TBMMN, gây khó khăn trong việc ăn uống và tăng nguy cơ sặc, viêm phổi. Bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc nhai, nuốt thức ăn, dẫn đến giảm lượng thức ăn đưa vào cơ thể và suy dinh dưỡng. Việc đánh giá mức độ rối loạn nuốt và lựa chọn phương pháp cho ăn phù hợp (ăn qua đường miệng, qua sonde mũi - dạ dày) là rất quan trọng. Đối với bệnh nhân nhập viện vì TBMMN, thì dinh dưỡng qua ống thông thường được chỉ định trong lâm sàng.

2.2. Tác Động của Bệnh Lý Nền Đến Tình Trạng Dinh Dưỡng

Các bệnh lý nền như tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh thận mạn có thể ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân TBMMN. Tăng huyết áp và đái tháo đường làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và các biến chứng tim mạch, ảnh hưởng đến quá trình cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể. Bệnh thận mạn làm giảm khả năng đào thải các chất độc hại và ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa dinh dưỡng. Theo Tổ chức Y tế thế giới, World Health Organization (WHO) và Hội tăng huyết áp quốc tế, International Society of Hypertension (ISH) đã thống nhất gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu động mạch ≥ 140mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trƣơng động mạch ≥ 90mmHg, hoặc bệnh nhân đang sử dụng thuốc điều trị THA.

III. Đánh Giá Dinh Dưỡng Bệnh Nhân TBMMN Nuôi Ăn Qua Sonde

Ở bệnh nhân TBMMN không thể ăn uống bình thường, việc nuôi ăn qua sonde mũi - dạ dày là một giải pháp quan trọng để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng. Tuy nhiên, việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng vẫn cần được thực hiện thường xuyên để điều chỉnh chế độ ăn phù hợp và phòng ngừa các biến chứng. Các chỉ số như BMI, albumin huyết thanh và SGA có thể được sử dụng để theo dõi tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân. Nuôi dƣỡng qua ống sond mũi - dạ dày là một nhu cầu cần thiết cho những bệnh nhân không thể ăn qua đƣờng miệng đƣợc mà cần phải đƣợc hỗ trợ dinh dƣỡng nhờ vào một ống thông để đƣa thức ăn xuống tận dạ dày.

3.1. Sử Dụng BMI Để Đánh Giá Tình Trạng Dinh Dưỡng

BMI (Body Mass Index) là một chỉ số đơn giản và dễ tính, được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình trạng cân nặng. Tuy nhiên, BMI có một số hạn chế, đặc biệt ở bệnh nhân TBMMN, vì nó không phân biệt được giữa khối lượng cơ và khối lượng mỡ. Do đó, cần kết hợp BMI với các chỉ số khác để có đánh giá chính xác hơn. Theo Tổ chức Y tế thế giới (2000) dùng để nhận định về tình trạng dinh dƣỡng, đƣợc tính t...

3.2. Vai Trò của Albumin Huyết Thanh Trong Đánh Giá Dinh Dưỡng

Albumin là một protein quan trọng trong máu, có vai trò vận chuyển các chất dinh dưỡng và duy trì áp suất keo. Nồng độ albumin huyết thanh có thể giảm trong tình trạng suy dinh dưỡng, viêm nhiễm và bệnh gan thận. Tuy nhiên, albumin không phải là một chỉ số nhạy cảm, vì nó có thời gian bán thải dài và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác. Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng ngƣời bệnh cần đƣợc đánh giá một cách toàn diện nhƣ từ biểu hiện tổng thể qua chỉ số BMI (Body Mass Index), SGA, đến biểu hiện từng thành phần cơ thể nhƣ lớp mỡ dƣới da (đo nếp gấp da vùng cơ tam đầu- TSF), cơ vùng cánh tay (đo diện tích cơ vùng cánh tay- AMA) hay khối nạc, mỡ, khối tế bào, khối ngoài tế bào.

3.3. Ưu Điểm của Phương Pháp SGA Trong Đánh Giá Dinh Dưỡng

SGA (Subjective Global Assessment) là một phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng toàn diện, dựa trên các thông tin về tiền sử bệnh, khám thực thể và đánh giá chủ quan của bác sĩ. SGA có ưu điểm là đơn giản, không xâm lấn và có độ nhạy cao. Tuy nhiên, SGA phụ thuộc vào kinh nghiệm của người đánh giá và có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan. Các nghiên cứu này đều dùng phƣơng pháp SGA (Subjective Global Assessment - Đánh giá tổng thể theo chủ quan) trong đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bệnh nhân nghiên cứu.

IV. Chế Độ Dinh Dưỡng Phù Hợp Cho Bệnh Nhân TBMMN Qua Sonde

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân TBMMN nuôi ăn qua sonde cần đảm bảo cung cấp đủ năng lượng, protein, vitamin và khoáng chất. Lượng calo và protein cần thiết phụ thuộc vào tình trạng bệnh lý, mức độ hoạt động và các yếu tố cá nhân khác. Cần lựa chọn công thức dinh dưỡng phù hợp, đảm bảo dễ tiêu hóa và hấp thu. Đồng thời, cần theo dõi các biến chứng như tiêu chảy, táo bón và trào ngược dạ dày - thực quản. Đối với bệnh nhân nhập viện vì tai biến mạch máu não thì chế độ dinh dƣỡng phù hợp với khả năng nhai hay dinh dƣỡng qua ống thông là quan trọng trong duy trì chức năng tế bào, miễn dịch và thúc đẩy khả năng hồi phục [7, 54].

4.1. Tính Toán Nhu Cầu Năng Lượng và Protein

Nhu cầu năng lượng và protein của bệnh nhân TBMMN có thể tăng lên do tình trạng bệnh lý và quá trình phục hồi. Cần tính toán chính xác nhu cầu này để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân. Có thể sử dụng các công thức ước tính hoặc các phương pháp đo lường trực tiếp để xác định nhu cầu năng lượng và protein. Đồng thời, ở nhóm bệnh nhân này, việc ăn uống của ngƣời bệnh sẽ trở nên khó khăn hơn, thông thƣờng cần phải có hỗ trợ dinh dƣỡng đáp ứng nhu cầu chuyển hóa dinh dƣỡng và phù hợp tri giác, khả năng nhai, nuốt.

4.2. Lựa Chọn Công Thức Dinh Dưỡng Phù Hợp

Có nhiều loại công thức dinh dưỡng khác nhau, phù hợp với các đối tượng bệnh nhân khác nhau. Cần lựa chọn công thức dinh dưỡng phù hợp với tình trạng bệnh lý, khả năng tiêu hóa và hấp thu của bệnh nhân TBMMN. Các công thức dinh dưỡng có thể chứa protein nguyên vẹn hoặc protein thủy phân, chất béo MCT hoặc LCT, và các loại carbohydrate khác nhau. Song, một chế độ dinh dƣỡng đáp ứng với nhu cầu chuyển hóa thƣờng ít đƣợc quan tâm. Điều này có thể gây thiếu hụt dinh 2 dƣỡng, sụt giảm khối cơ, suy chức năng cơ, miễn dịch, kéo dài thời gian nằm viện…[7, 54].

4.3. Theo Dõi và Xử Lý Các Biến Chứng

Nuôi ăn qua sonde có thể gây ra một số biến chứng như tiêu chảy, táo bón, trào ngược dạ dày - thực quản và nhiễm trùng. Cần theo dõi sát các biến chứng này và có biện pháp xử lý kịp thời. Có thể điều chỉnh tốc độ cho ăn, thay đổi công thức dinh dưỡng hoặc sử dụng thuốc để giảm thiểu các biến chứng. Rõ ràng, rối loạn nuốt có thể xuất hiện đến 65% bệnh nhân tai biến mạch máu não, dẫn đến sụt cân, suy dinh dƣỡng, dễ bị viêm phổi và làm nặng thêm tình trạng mất chức năng (tàn phế) [3, 38, 42, 68].

V. Phục Hồi Chức Năng Dinh Dưỡng Sau Tai Biến Mạch Máu Não

Phục hồi chức năng dinh dưỡng là một phần quan trọng trong quá trình phục hồi chức năng tổng thể sau TBMMN. Mục tiêu là giúp bệnh nhân ăn uống trở lại bình thường, duy trì cân nặng hợp lý và cải thiện chất lượng cuộc sống. Quá trình phục hồi chức năng dinh dưỡng cần có sự phối hợp của nhiều chuyên gia, bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, chuyên gia dinh dưỡng và nhà trị liệu ngôn ngữ. Đối với bệnh nhân nhập viện vì TBMMN, thì dinh dƣỡng qua ống thông thƣờng đƣợc chỉ định trong lâm sàng.

5.1. Đánh Giá Khả Năng Nuốt và Lập Kế Hoạch Phục Hồi

Trước khi bắt đầu quá trình phục hồi chức năng dinh dưỡng, cần đánh giá kỹ lưỡng khả năng nuốt của bệnh nhân. Nhà trị liệu ngôn ngữ sẽ thực hiện các bài kiểm tra để xác định mức độ rối loạn nuốt và đưa ra kế hoạch phục hồi phù hợp. Kế hoạch này có thể bao gồm các bài tập luyện cơ miệng, thay đổi tư thế ăn uống và điều chỉnh độ đặc của thức ăn. Chính vì vậy, cho đến nay vẫn chƣa có bất kỳ một phƣơng pháp nào đƣợc coi là "Tiêu chuẩn vàng" trong đánh giá tình trạng dinh dƣỡng, bởi mỗi phƣơng pháp có một ý nghĩa riêng.

5.2. Hướng Dẫn Chế Độ Ăn Uống Tại Nhà

Sau khi xuất viện, bệnh nhân cần tiếp tục tuân thủ chế độ ăn uống phù hợp để duy trì tình trạng dinh dưỡng tốt. Chuyên gia dinh dưỡng sẽ cung cấp hướng dẫn chi tiết về chế độ ăn uống tại nhà, bao gồm lựa chọn thực phẩm, cách chế biến và số lượng cần thiết. Gia đình cũng cần được hướng dẫn về cách hỗ trợ bệnh nhân ăn uống và phòng ngừa các biến chứng. Tình trạng dinh dƣỡng còn đƣợc đánh giá về mặt chức năng nhƣ sức cơ, chức năng miễn dịch và điều tra khẩu phần ăn.

VI. Nghiên Cứu Về Tình Trạng Dinh Dưỡng Bệnh Nhân TBMMN

Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN còn hạn chế. Các nghiên cứu hiện có cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN nhập viện khá cao, dao động từ 30% đến 50%. Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng bao gồm tuổi cao, giới tính nam, rối loạn nuốt, bệnh lý nền và thời gian nằm viện kéo dài. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN và tìm ra các biện pháp can thiệp hiệu quả. Song cho đến nay nghiên cứu về vấn đề suy dinh dƣỡng bệnh nhân tai biến mạch máu não rất hạn chế.

6.1. Tỷ Lệ Suy Dinh Dưỡng Ở Bệnh Nhân TBMMN Nhập Viện

Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN nhập viện khá cao, dao động từ 30% đến 50%. Tỷ lệ này cao hơn so với tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nhập viện nói chung. Điều này cho thấy bệnh nhân TBMMN có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡng và cần được quan tâm đặc biệt. Chẳng hạn nhƣ, tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân nhập viện chung 43- 50% [14], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân phẫu thuật bụng là 55,7% [70], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân phẫu thuật ngoại gan mật tụy là 56,7% [2], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân chu phẫu là 53,1% [6], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối chƣa lọc máu là 36,2% [16], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân hồi sức cấp cứu SGA B là 53,2%, SGA C là 11,7% [13].

6.2. Các Yếu Tố Liên Quan Đến Suy Dinh Dưỡng

Nhiều yếu tố có thể liên quan đến suy dinh dưỡng ở bệnh nhân TBMMN, bao gồm tuổi cao, giới tính nam, rối loạn nuốt, bệnh lý nền và thời gian nằm viện kéo dài. Tuổi cao và giới tính nam có thể liên quan đến giảm khối lượng cơ và giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng. Rối loạn nuốt làm giảm lượng thức ăn đưa vào cơ thể. Bệnh lý nền và thời gian nằm viện kéo dài làm tăng nhu cầu dinh dưỡng và tăng nguy cơ suy dinh dưỡng. Nhƣ vậy, câu hỏi đƣợc đặt ra là tỉ lệ suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân tai biến mạch máu não nhập viện là bao nhiêu? Liệu có mối liên quan giữa SGA với độ tuổi, giới tính, bệnh lý nền nhƣ tăng huyết áp, đái tháo đƣờng, bệnh thận mạn hay không?

07/06/2025
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân di chứng tai biến mạch máu não đang được nuôi ăn qua sonde mũi dạ dày bằng phương pháp sga subjective global assessment

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 ở ngƣời trên 60 tuổi và đứng hàng thứ 5 ở ngƣời có độ tuổi từ 15 đến 59 tuổi trên thế giới, theo Tổ chức Tim Thế giới (World Heart Federation). Mỗi năm khoảng 0,2% dân số thế giới bị tai biến mạch máu não, riêng đối với ngƣời trên 65 tuổi, tỷ lệ này là 5% [22, 76]. Dinh dƣỡng và tai biến mạch máu não có mối liên quan sâu sắc với nhau, ngƣời thừa cân, béo phì, hay chế độ ăn không lành mạnh nhƣ giàu cholesterol, béo bão hòa làm tăng nguy cơ cao huyết áp, xơ vữa mạch, tai biến mạch máu não [27, 29]. Tình trạng dinh dƣỡng kém cũng tăng nguy cơ loét tỳ đè, viêm phổi….ở bệnh nhân TBMMN.Trái lại các di chứng của TBMMN cũng làm tăng nguy cơ suy dinh dƣỡng ở đối tƣợng này.

Bệnh lý làm thay đổi đáp ứng chuyển hóa nhƣ kháng insulin, tăng đƣờng huyết, tăng nhu cầu dị hóa đạm [7, 9, 54]. Đồng thời, ở nhóm bệnh nhân này, việc ăn uống của ngƣời bệnh sẽ trở nên khó khăn hơn, thông thƣờng cần phải có hỗ trợ dinh dƣỡng đáp ứng nhu cầu chuyển hóa dinh dƣỡng và phù hợp tri giác, khả năng nhai, nuốt. Đối với bệnh nhân nhập viện vì tai biến mạch máu não thì chế độ dinh dƣỡng phù hợp với khả năng nhai hay dinh dƣỡng qua ống thông là quan trọng trong duy trì chức năng tế bào, miễn dịch và thúc đẩy khả năng hồi phục [7, 54]. Rõ ràng, rối loạn nuốt có thể xuất hiện đến 65% bệnh nhân tai biến mạch máu não, dẫn đến sụt cân, suy dinh dƣỡng, dễ bị viêm phổi và làm nặng thêm tình trạng mất chức năng (tàn phế) [3, 38, 42, 68].

Đối với bệnh nhân nhập viện vì TBMMN, thì dinh dƣỡng qua ống thông thƣờng đƣợc chỉ định trong lâm sàng. Song, một chế độ dinh dƣỡng đáp ứng với nhu cầu chuyển hóa thƣờng ít đƣợc quan tâm. Điều này có thể gây thiếu hụt dinh 2 dƣỡng, sụt giảm khối cơ, suy chức năng cơ, miễn dịch, kéo dài thời gian nằm viện…[7, 54]. Song cho đến nay nghiên cứu về vấn đề suy dinh dƣỡng bệnh nhân tai biến mạch máu não rất hạn chế.

Trong khi đó, suy dinh dƣỡng bệnh nhân nhập viện hiện đang đƣợc quan tâm nghiên cứu khá nhiều. Chẳng hạn nhƣ, tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân nhập viện chung 43- 50% [14], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân phẫu thuật bụng là 55,7% [70], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân phẫu thuật ngoại gan mật tụy là 56,7% [2], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân chu phẫu là 53,1% [6], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối chƣa lọc máu là 36,2% [16], tần suất suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân hồi sức cấp cứu SGA B là 53,2%, SGA C là 11,7% [13]. Các nghiên cứu này đều dùng phƣơng pháp SGA (Subjective Global Assessment - Đánh giá tổng thể theo chủ quan) trong đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bệnh nhân nghiên cứu. Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng ngƣời bệnh cần đƣợc đánh giá một cách toàn diện nhƣ từ biểu hiện tổng thể qua chỉ số BMI (Body Mass Index), SGA, đến biểu hiện từng thành phần cơ thể nhƣ lớp mỡ dƣới da (đo nếp gấp da vùng cơ tam đầu- TSF), cơ vùng cánh tay (đo diện tích cơ vùng cánh tay- AMA) hay khối nạc, mỡ, khối tế bào, khối ngoài tế bào.

Tình trạng dinh dƣỡng còn đƣợc đánh giá về mặt chức năng nhƣ sức cơ, chức năng miễn dịch và điều tra khẩu phần ăn. Chính vì vậy, cho đến nay vẫn chƣa có bất kỳ một phƣơng pháp nào đƣợc coi là "Tiêu chuẩn vàng" trong đánh giá tình trạng dinh dƣỡng, bởi mỗi phƣơng pháp có một ý nghĩa riêng. Tuy nhiên, SGA đƣợc khuyến nghị là công cụ đánh giá nhanh tình trạng dinh dƣỡng bệnh nhân nhập viện [30], vì không xâm lấn, không tốn kém, lại có độ nhạy 3 cao (98%) và độ đặc hiệu cao (82%) [17, 21, 39], điều này rõ ràng đã đƣợc minh chứng qua các nghiên cứu ở nƣớc ta. Nhƣ vậy, câu hỏi đƣợc đặt ra là tỉ lệ suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân tai biến mạch máu não nhập viện là bao nhiêu? Liệu có mối liên quan giữa SGA với độ tuổi, giới tính, bệnh lý nền nhƣ tăng huyết áp, đái tháo đƣờng, bệnh thận mạn hay không? Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định các mục tiêu sau: 1.

Xác định tỉ lệ suy dinh dƣỡng theo SGA, BMI và Albumin ở bệnh nhân di chứng TBMMN đƣợc nuôi ăn qua sonde mũi dạ dày. Khảo sát mối liên quan giữa SGA với độ tuổi, giới tính, bệnh lý nền nhƣ tăng huyết áp, đái tháo đƣờng, bệnh thận mạn. Khảo sát mối liên quan của các phƣơng pháp đánh giá dinh dƣỡng và dự hậu dựa trên kết quả điều trị gồm : Viêm phổi, nhập ICU, thời gian nằm viện. Xác định mối tƣơng quan của đánh giá tình trạng dinh dƣỡng giữa SGA và Albumin, giữa SGA và BMI.

4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO [10] 1. Định nghĩa Tai biến mạch máu não hay đột quỵ là một hội chứng lâm sàng, đặc trƣng bởi hiện tƣợng mất chức năng não cục bộ cấp tính và kéo dài trên 24 giờ, có thể gây tử vong và nguyên nhân là do mạch máu não. TBMMN gồm các thể lâm sàng: - Chảy máu trong sọ: • Chảy máu trong não (chảy máu não – não thất) • Chảy máu khoang dƣới nhện - Thiếu máu cục bộ não cấp hay còn gọi là nhồi máu não.

TBMMN vẫn là một biến chứng nặng, dễ tử vong, ảnh hƣởng lớn tới sức khoẻ, tâm thần và đời sống ngƣời bệnh, các di chứng tàn phế trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội. TBMMN gặp ở nam nhiều hơn nữ giới, hay gặp ở lứa tuổi trung niên (> 40 tuổi). Tuổi của những bệnh nhân TBMMN có liên quan đến tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim hay xơ vữa động mạch thƣờng lớn hơn bệnh nhân TBMMN có liên quan đến bệnh van tim hay viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. TBMMN xảy ra ở bất kỳ giờ nào trong ngày và bất cứ mùa nào trong năm, song thƣờng xảy ra 10 giờ sáng và vào các tháng nóng nhất (tháng 7, 8) hay lạnh nhất (tháng 12, 1 theo thống kê của Viện Tim mạch Việt Nam).

Phân loại tai biến mạch máu não (TBMMN) TBMMN (hay đột quỵ) là một rối loạn khu trú chức năng của não có tiến triển nhanh trên lâm sàng, nguyên nhân thƣờng do một mạch máu não bị vỡ hoặc tắc. TBMMN có các loại tổn thƣơng chính là xuất huyết não, xuất huyết màng não và nhũn não hoặc phối hợp các loại. Xuất huyết não do vỡ mạch máu não, liên quan với huyết áp cao hoặc dị dạng mạch máu não. Nhồi máu não xảy ra khi một nhánh động mạch não bị tắc thƣờng do 3 nguyên nhân chính là mảng xơ vữa, cục tắc bắn từ xa tới và nhũn não do giảm tới máu não.

Các nguyên nhân hiếm gặp khác bao gồm: tách thành động mạch não, viêm mạch não và huyết khối tĩnh mạch não. - TBMMN do mảng xơ vữa chủ yếu xảy ra ở các mạch máu lớn (động mạch cảnh trong, động mạch sống, động mạch nền) song cũng xảy ra ở các động mạch não nhỏ và vừa ở bất kỳ vùng nào. Thƣơng tổn lúc đầu chỉ là mảng xơ vữa gây hẹp dần lòng mạch, từ đó tạo thành huyết khối, sau cùng gây tắc mạch. Huyết khối có khi hình thành mới dù không có xơ vữa từ trƣ- ớc, hay gặp ở bệnh nhân có tình trạng tăng đông.

- TBMMN do huyết khối thƣờng gây tắc các động mạch não đƣờng kính trung bình, nhất là động mạch não giữa và các nhánh chính của hệ thống động mạch sống nền. Nguồn gốc của các cục huyết khối này chủ yếu từ tim, một số ít hình thành ngay tại vùng xơ vữa của phần đầu các động mạch não. Gần một nửa nguyên nhân cục huyết khối từ tim là huyết khối hình thành do rung nhĩ, phần còn lại là huyết khối hình thành do rối loạn chức năng thất trái nặng, do các bệnh van tim (hẹp van hai lá), tắc mạch 6 nghịch thƣờng hoặc nhồi máu cơ tim mới, thậm chí do mảng xơ vữa bắn từ quai ĐMC, cục sùi do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. - TBMMN do giảm tƣới máu não xảy ra ở những mạch não hẹp nhiều cho đến mức tắc hẳn, gây thiếu máu ở những vùng xa nơi giáp ranh tới máu của các động mạch não.

Kinh điển là vùng giáp ranh giữa động mạch não trƣớc và động mạch não giữa, là vùng chi phối vận động các chi. Hẹp động mạch cảnh trong ở mức độ nặng có thể gây thiếu máu vùng này, nhất là sau khi đã có tụt huyết áp. - TBMMN còn xảy ra ở những bệnh nhân viêm mạch máu não do các bệnh tự miễn, nhiễm trùng, nghiện ma tuý hoặc vô căn. Một số ít trƣờng hợp đột quỵ do huyết khối trong tĩnh mạch hoặc xoang tĩnh mạch nội sọ: những trƣờng hợp này hay có kèm theo xuất huyết não, động kinh và các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ.

TBMMN thoáng qua (cơn thiếu máu não thoáng qua, TIA: transient ischemic attack): Ngƣời bệnh đột nhiên bị liệt nửa ngƣời hoặc một nhóm cơ nhƣ liệt nửa mặt, nói nghịu, đột nhiên không nhai đƣợc, tay buông rơi đồ vật đang cầm; nhƣng các dấu hiệu này thoái triển hết ngay trong vòng 24 giờ. Nguyên nhân do tắc một động mạch não nhƣng cục máu đông lại tự tiêu đƣợc. Di chứng TBMMN : Đa số bệnh nhân bị tai biến mạch máu não có di chứng về thần kinh và có thể có di chứng về tâm thần. Theo thống kê của Hội Phòng chống tai biến mạch máu não, trong số 50% bệnh nhân tai biến mạch máu não may mắn sống sót, có tới 92% mắc di chứng về vận động, 68% biến chứng vừa và nhẹ, 27% di chứng nặng.

Trong 7 đó, liệt nửa ngƣời, rối loạn ngôn ngữ, không tự chủ đƣợc trong việc tiểu tiện là những biến chứng thƣờng gặp nhất. Đánh giá mức độ di chứng của bệnh nhân tai biến mạch máu não (Theo Rankin và các tác giả khác) đều chia làm 3 mức độ:  Di chứng nhẹ: bệnh nhân tự phục vụ đƣợc.  Di chứng vừa: bệnh nhân cần sự giúp đỡ một phần trong sinh hoạt.  Di chứng nặng: bệnh nhân cần sự phục vụ hoàn toàn mọi sinh hoạt cá nhân.

Nuôi dƣỡng qua ống sond mũi - dạ dày là một nhu cầu cần thiết cho những bệnh nhân không thể ăn qua đƣờng miệng đƣợc mà cần phải đƣợc hỗ trợ dinh dƣỡng nhờ vào một ống thông để đƣa thức ăn xuống tận dạ dày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Đánh Giá Tình Trạng Dinh Dưỡng Ở Bệnh Nhân Tai Biến Mạch Máu Não Được Nuôi Ăn Qua Sonde Mũi - Dạ Dày cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, đặc biệt là những người được nuôi ăn qua sonde mũi - dạ dày. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá dinh dưỡng trong quá trình điều trị, giúp cải thiện sức khỏe và phục hồi chức năng cho bệnh nhân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các phương pháp đánh giá dinh dưỡng, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức về dinh dưỡng trong các tình huống y tế khác, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của người bệnh suy thận mạn chưa lọc máu điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa xanh pôn 2018. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố dinh dưỡng trong điều trị bệnh nhân suy thận, từ đó có thể áp dụng những kiến thức này vào việc chăm sóc bệnh nhân một cách hiệu quả hơn.