Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu sự thay đổi các nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự thay đổi các nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo, cung cấp thông tin quan trọng cho y học.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CẤU TẠO VÀ SINH LÝ THẬN

1.1.1. Cấu tạo của thận

1.1.2. Chức năng của thận

1.1.3. Quá trình lọc máu và bài tiết nước tiểu ở thận

1.1.4. Cơ chế bệnh sinh

1.1.5. Quá trình tiến triển của suy thận

1.1.6. Lịch sử của chạy thận nhân tạo

1.1.7. Khái niệm chạy thận nhân tạo

1.1.8. Quá trình chạy thận

1.2. VAI TRÒ VÀ TÁC DỤNG CỦA NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG

1.2.1. Nguyên tố kẽm

1.2.1.1. Vai trò, tác dụng và ảnh hưởng của kẽm đối với cơ thể
1.2.1.2. Nhu cầu và nguồn bổ sung kẽm

1.2.2. Nguyên tố đồng

1.2.2.1. Vai trò, tác dụng và ảnh hưởng của đồng đối với cơ thể
1.2.2.2. Nhu cầu và nguồn bổ sung đồng

1.2.3. Mất cân bằng đồng kẽm

1.2.4. Các nguyên tố điện giải trong cơ thể

1.2.4.1. Nguyên tố natri
1.2.4.2. Nguyên tố canxi
1.2.4.3. Nguyên tố kali

1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG

1.3.1. Phương pháp quang xác định đồng, kẽm

1.3.1.1. Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS
1.3.1.2. Phương pháp phân tích trắc quang

1.3.2. Phương pháp, cơ sở tính toán của xét nghiệm điện giải

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thiết bị, hoá chất, vật tư tiêu hao

2.3. Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

2.4. Phương pháp xác định các chất trong mẫu nghiên cứu

2.5. Xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Kết quả hàm lượng đồng, kẽm theo nhóm tuổi và giới của BNNC

3.2. Kết quả nồng độ các nguyên tố vi lượng của các nhóm nghiên cứu

3.2.1. Nồng độ đồng của các nhóm nghiên cứu

3.2.2. Nồng độ kẽm của các nhóm nghiên cứu

3.3. Kết quả nồng độ các chất điện giải ở các nhóm nghiên cứu

3.4. Đánh giá sự thay đổi nồng độ nguyên tố vi lượng theo thời gian chạy thận nhân tạo

3.5. Tỷ lệ đồng/kẽm ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC: DANH SÁCH BỆNH NHÂN

Tóm tắt

I. Tổng quan về sự thay đổi nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Chạy thận nhân tạo là một phương pháp điều trị quan trọng cho bệnh nhân suy thận. Quá trình này không chỉ giúp loại bỏ các chất độc hại mà còn ảnh hưởng đến sự cân bằng của các nguyên tố vi lượng trong cơ thể. Các nguyên tố vi lượng như kẽm, đồng, và selen đóng vai trò thiết yếu trong nhiều chức năng sinh học. Tuy nhiên, sự thay đổi nồng độ của các nguyên tố này trong quá trình chạy thận nhân tạo vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

1.1. Nguyên tố vi lượng và vai trò của chúng trong cơ thể

Nguyên tố vi lượng là những khoáng chất cần thiết cho cơ thể với hàm lượng rất nhỏ. Chúng tham gia vào nhiều quá trình sinh hóa, bao gồm hoạt động của enzyme và điều hòa miễn dịch. Thiếu hụt các nguyên tố này có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

1.2. Tác động của chạy thận nhân tạo đến nguyên tố vi lượng

Chạy thận nhân tạo có thể dẫn đến sự thiếu hụt các nguyên tố vi lượng do quá trình lọc máu. Các nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân chạy thận nhân tạo thường có nồng độ kẽm và đồng thấp hơn so với người khỏe mạnh, điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể của họ.

II. Vấn đề và thách thức trong việc duy trì nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Một trong những thách thức lớn nhất trong điều trị bệnh nhân chạy thận nhân tạo là duy trì nồng độ nguyên tố vi lượng trong cơ thể. Việc lọc máu có thể dẫn đến sự mất cân bằng các nguyên tố này, gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Các bác sĩ cần phải theo dõi và điều chỉnh chế độ ăn uống cũng như bổ sung các nguyên tố vi lượng cần thiết.

2.1. Thiếu hụt nguyên tố vi lượng và ảnh hưởng của nó

Thiếu hụt kẽm và đồng có thể dẫn đến suy giảm miễn dịch, tăng nguy cơ nhiễm trùng và làm chậm quá trình hồi phục. Bệnh nhân chạy thận nhân tạo cần được theo dõi chặt chẽ để phát hiện sớm các dấu hiệu thiếu hụt.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi nguyên tố vi lượng

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến nồng độ nguyên tố vi lượng trong cơ thể bệnh nhân chạy thận nhân tạo, bao gồm chế độ ăn uống, tình trạng sức khỏe tổng thể và thời gian chạy thận. Việc hiểu rõ các yếu tố này là rất quan trọng để có thể điều chỉnh chế độ điều trị hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu sự thay đổi nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Nghiên cứu sự thay đổi nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo thường sử dụng các phương pháp phân tích hóa học hiện đại. Các phương pháp này cho phép xác định nồng độ của các nguyên tố vi lượng trong huyết tương một cách chính xác. Việc áp dụng các phương pháp này giúp cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân.

3.1. Phương pháp phân tích hóa học

Các phương pháp như quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) và phương pháp phân tích trắc quang được sử dụng để xác định nồng độ kẽm và đồng trong mẫu huyết tương. Những phương pháp này cho phép phát hiện nồng độ nguyên tố vi lượng với độ chính xác cao.

3.2. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu thường được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, trong đó dữ liệu được thu thập từ bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại các bệnh viện. Việc thu thập dữ liệu cần được thực hiện một cách hệ thống để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

IV. Kết quả nghiên cứu về sự thay đổi nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ kẽm và đồng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo thường thấp hơn so với người khỏe mạnh. Sự thay đổi này có thể liên quan đến thời gian chạy thận và chế độ ăn uống của bệnh nhân. Việc theo dõi nồng độ các nguyên tố vi lượng này là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho bệnh nhân.

4.1. Nồng độ kẽm và đồng ở bệnh nhân chạy thận

Nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ kẽm và đồng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo thường thấp hơn so với mức bình thường. Điều này có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nếu không được điều chỉnh kịp thời.

4.2. Mối tương quan giữa thời gian chạy thận và nồng độ nguyên tố vi lượng

Có một mối tương quan rõ ràng giữa thời gian chạy thận và nồng độ nguyên tố vi lượng trong cơ thể. Bệnh nhân chạy thận lâu dài có xu hướng có nồng độ kẽm và đồng thấp hơn, điều này cần được chú ý trong quá trình điều trị.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu về nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo

Nghiên cứu về sự thay đổi nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo là rất cần thiết để cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Việc hiểu rõ về vai trò của các nguyên tố vi lượng và cách duy trì chúng trong cơ thể sẽ giúp các bác sĩ đưa ra các biện pháp điều trị hiệu quả hơn.

5.1. Tầm quan trọng của việc duy trì nguyên tố vi lượng

Duy trì nồng độ nguyên tố vi lượng là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo. Các bác sĩ cần chú ý đến chế độ ăn uống và bổ sung các nguyên tố vi lượng cần thiết.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về sự thay đổi nguyên tố vi lượng ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo. Các nghiên cứu này sẽ giúp phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CẤU TẠO VÀ SINH LÝ THẬN 1.1 Cấu tạo của thận Mỗi quả thận dài khoảng 10 – 12,5 cm, rộng 5–6 cm, dày 3–4 cm và nặng khoảng 170g, có một bờ lồi, một bờ lõm. Ở bờ lõm có một chỗ lõm sâu gọi là rốn thận là nơi mạch máu và các tổ chức thận liên quan. Thận gồm 2 vùng: vùng ngoài cùng là phần vỏ (có màu hồng tới đỏ hay đỏ sẫm) dày khoảng 7 – 10mm, vùng kế tiếp là phần tủy là một khoang rỗng được gọi là bể thận hay tháp thận (hình 1. Cấu tạo của thận [9] Mỗi quả thận của người được cấu tạo từ hơn một triệu đơn vị thận (nerphron).

Đơn vị thận vừa là đơn vị cấu tạo vừa là đơn vị chức năng. Mỗi đơn vị thận gồm có cầu thận và ống thận [2]: Cầu thận gồm quản cầu Malpighi và nang Bowman là một túi bọc quản cầu, thành nang có nhiều lỗ nhỏ. Quản cầu Malpighi gồm khoảng 50 mao mạch xếp song song thành khối hình cầu. Ngăn cách giữa nang và mao mạch là một màng lọc mỏng để lọc các chất từ mao mạch sang nang.

2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ống thận gồm ống ố lượn gần, quai Henle và ống lượn xa. Ống thận và hệ mạch máu thậận[2] Huyết áp đẩy y máu, nước, nư urê, muối và các chất nhỏ hòa tan khác ttừ máu trong quản cầu u đi vào lòng l ống của nang Bowman, dịch lọcc từ t nang đổ vào ống lượn gần (uốn n khúc), ti tiếp đến là quai Henle là một ống ng hình ch chữ U. Ở đầu lên của quai Henle tiếp với ống ng lư lượn xa cũng là một ống uốn khúc. Từ ống lượn xa dịch lọc đổ vào ống góp.

Ống ng góp không thu thuộc đơn vị thận, nó nhận dịch ch lọc l từ một số đơn vị thận để đổ vào bể th thận.2 Chức năng của a thận th Thận có chứcc năng quan trọng như vai trò chính của hệ tiết niệu, chức năng hằng định nộii môi như điều chỉnh các chất điện n phân, duy trì ssự ổn định axit-bazơ, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và điều chỉnh huyết áp. Thận đóng vai trò là bộ lọc máu tự nhiên trong cơ thể, và các chất thải theo niệu quản được dẫn đến bàng quang để thải ra ngoài. Trong việc tạo ra nước tiểu, các quả thận bài tiết các chất thải như urê, axít uric, ammoniac… và thận cũng có nhiệm vụ tái hấp thụ nước, glucose, các axít amin… Thận cũng sản xuất các hoocmon như calcitriol, renin, và erythropoietin [2, 3].3 Quá trình lọc máu và bài tiết nước tiểu ở thận Sự lọc máu Dịch từ trong lòng mạch đi vào nang Bowman phải qua màng lọc gồm ba lớp: Lớp tế bào nội mô mao mạch, màng đáy và lớp tế bào biểu của nang Bowman. Màng lọc là một màng có tính thấm chọn lọc rất cao, những chất có khối lượng phân tử lớn hơn 80 kDaton không đi được qua màng như các chất gắn với protein, globulin, albumin… Nước tiểu trong nang Bowman (được gọi là nước tiểu đầu) có thành phần các chất hòa tan gần giống như huyết tương, trừ các chất có phân tử lượng trên 80kDaton, không có các thành phần hữu hình của máu.

Nước tiểu đầu được hình thành nhờ quá trình lọc huyết tương của cầu thận. Quá trình lọc là quá trình thụ động, phụ thuộc vào sự chênh lệch áp suất trong cơ thể [3]. Sự tái hấp thu các chất của thận. Mỗi ngày khoảng 170 - 180 lít dịch lọc được tạo ra từ các nang Bowman nhưng chỉ có 1 – 2 lít nước tiểu chính thức được hình thành.

Như vậy, khoảng 99% lượng nước và các chất được tái hấp thu ở các ống thận khi chảy qua ống lượn gần, quai Henle, ống lượn xa. Có những chất được tái hấp thu hoàn toàn, có chất được tái hấp thu một phần và có chất không được tái hấp thu. Nhờ cơ chế tái hấp thu nước ở ống lượn xa nên nước tiểu được cô đặc dần và đi vào ống góp. Tại ống góp vẫn có sự tái hấp thu nước nhờ tác dụng của hoóc môn ADH, nước tiểu cô đặc hơn và đi xuống bể thận, xuống bàng quang và thải ra ngoài [2].

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Cơ chế bệnh sinh Cơ chế sinh bệnh của suy thận mạn được giải thích trên cơ sở lý luận của thuyết nephron nguyên vẹn. Mặc dù tổn thương khởi phát ở cầu thận, mạch máu thận, tổ chức ống thận thì các nephron cũng bị thương tổn nặng và thường bị loại trừ khỏi vai trò chức năng sinh lý. Chức năng của thận chỉ còn được đảm nhiệm bởi các nephron nguyên vẹn còn lại, khi số nephron nguyên vẹn còn lại này không đủ để đảm bảo chức năng của thận là duy trì sự hằng định của nội môi thì sẽ xuất hiện các rối loạn về nước điện giải, về tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh tạo nên hội chứng suy thận mạn [3].5 Quá trình tiến triển của suy thận Về lâm sàng: Xuất hiện các triệu chứng: Phù, thiếu máu, tăng huyết áp, suy tim, rối loạn tiêu hóa, xuất huyết, viêm màng ngoài tim, ngứa, chuột rút, hôn mê… Về cận lâm sàng: Tăng urê máu, tăng creatinine máu; Giảm hệ số thanh thải creatinine. Chẩn đoán giai đoạn: Quá trình suy thận diễn tiến kéo dài, âm ỉ và được chia thành 5 giai đoạn dựa trên mức lọc cầu thận: Bảng 1.

Đánh giá các giai đoạn của suy thận [3] Hệ số thanh thải Nồng độ creatinine máu Giai đoạn suy creatinine thận mạn µmol/l mg/dl (ml/phút) Bình thường 120 70-106 0,8 - 1,2 I 90-119 < 130 < 1,5 II 60-89 130 - 299 1,5 - 3,4 III 30-59 300-499 3,5 - 5,9 IV 15-29 500-900 6,0 - 10 V < 15 > 900 > 10 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.6 Lịch sử của chạy thận nhân tạo. Năm 1861, các nhà hoá học đã áp dụng kỹ thuật thẩm thấu và phân tách để tách chiết các chất tan từ dung dịch chứa nó.Thời gian đầu chỉ có lọc máu ngắt quãng, các thông số theo dõi được điều chỉnh liên tục. Liệu pháp chạy thận nhân tạo liên tục được phát triển từ những năm 1980 nhằm cố gắng đưa ra hỗ trợ thận nhân tạo cho những bệnh nhân không thể chịu được thẩm tách máu truyền thống [6].7 Khái niệm chạy thận nhân tạo[6] Chạy thận nhân tạo là kỹ thuật thẩm thấu và phân tách máu nhờ hai nguyên lý: khuếch tán và siêu lọc. Khuếch tán đóng vai trò quan trọng nhất trong chạy thận nhân tạo nhưng không giống chức năng của thận.

Siêu lọc tuy ít đóng vai trò quan trọng trong chạy thận nhân tạo nhưng lại giống với chức năng thận người.8 Quá trình chạy thận Chạy thận nhân tạo là một biện pháp điều trị dùng màng lọc bán thấm để thay thế thận suy, nhằm: Lọc sạch các chất độc do quá trình chuyển hóa tạo ra tích tụ trong máu gây độc hại cho cơ thể khi suy thận, quan trọng nhất là các nitơ phi protein: ure, creatinin, acid uric. Loại bỏ các độc chất từ ngoài vào như trong ngộ độc thuốc ngủ bacbiturat. Điều chỉnh thăng bằng kiềm-toan của máu. Điều chỉnh rối loạn các chất điện giải, rút dịch phù.

Các nguyên lý được ứng dụng để chạy thận nhân tạo Màng bán thấm (hình 1.2): là cơ sở cho tất cả các liệu pháp lọc máu, muốn lọc máu cho bệnh nhân suy thận, người ta phải thiết lập một hệ thống: một bên là máu cơ thể, một bên là dịch lọc gần giống dịch ngoài tế bào, ở giữa có màng lọc bán thấm ngăn cách. Chúng cho phép nước và chất hoà tan đi qua màng, trong khi các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phần tế bào máu và các chất hoà tan khác được giữ lại bên trong. Nước và các chất hoà tan đi qua màng được gọi là siêu lọc. Quả lọc cấu tạo bởi màng bán thấm được bao bên ngoài bằng một vỏ bọc.

Có hai loại màng bán thấm được sử dụng trong liệu pháp chạy thận: màng cellulose và màng tổng hợp. Các màng tổng hợp cho phép lọc bỏ các phân tử lớn hơn và là loại màng chủ yếu được sử dụng trong liệu pháp chạy thận nhân tạo [6]. Cấu tạo màng bán thấm của máy chạy thận [50] Không giống như các đơn vị thận, thận nhân tạo không thể hấp thu bớt nước hoặc các chất hòa tan khi vào bộ lọc, bất kỳ chất nào trong dịch lọc chảy vào ống đựng của bộ lọc sẽ được loại bỏ thông qua các ống thoát. Do đó, một trong những sự khác biệt trong thận nhân tạo là sự vắng mặt của ống lượn gần, quai Henle và ống lượn xa nơi nước và chất tan tái hấp thu và bài tiết xảy ra.

Các ống thoát của bộ lọc tương tự như các ống góp của đơn vị thận nhưng không có ống lượn gần. Để bù đắp cho sự thiếu khả năng tái hấp thu nước và các chất hòa tan sau loại bỏ khỏi máu, thận nhân tạo được chế tác để hạn chế việc di dời của các chất cần thiết, thực tế chỉ để nước dư thừa và chất thải. Điều này được thực hiện bằng cách điều chỉnh các giải pháp lọc máu và tỷ lệ siêu lọc [50]. Khuếch tán phân biệt: các chất như ure, creatinin, kali, natri.

được khuếch tán qua màng theo chênh lệch nồng độ, chất có nồng độ trong máu cao sẽ khuếch 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tán qua màng vào khoang dịch lọc và ngược lại. Ví dụ: urê máu cao, dịch lọc không có urê. Urê sẽ khuếch tán từ máu ra dịch lọc và được loại ra khỏi cơ thể theo dịch lọc [6]. Thẩm thấu: giữa dịch lọc và máu nồng độ nước ngang nhau do đó không có khuếch tán phân biệt.

Để rút nước cho bệnh nhân phù người ta pha nhiều glucose vào dịch lọc nhằm tăng nồng độ thẩm thấu của dịch lọc cao hơn trong máu. Nước từ máu sẽ thẩm thấu qua màng ra dịch lọc theo nguyên lý thẩm thấu và được loại bỏ theo dịch lọc ra khỏi cơ thể [50]. Siêu lọc: nước và các chất được đẩy qua màng lọc nhờ thiết bị làm tăng áp lực lọc của máu đi qua bộ lọc nhân tạo. Áp lực tạo ra sự siêu lọc có thể là áp lực dương đẩy dịch qua màng lọc.

Áp lực tạo ra sự siêu lọc cũng có thể là áp lực âm, là áp lực hút lôi kéo dịch sang phía bên kia của màng lọc. Tốc độ siêu lọc sẽ tuỳ thuộc vào áp lực tác dụng lên màng lọc và tốc độ dòng máu qua quả lọc. Áp lực tác dụng lên màng lọc cao hơn, dòng máu qua quả lọc nhanh hơn sẽ càng làm tăng tốc độ siêu lọc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ