MỞ ĐẦU Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái ở vùng cửa sông ven biển các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có khí hậu nóng ẩm, đất ngập nước thường xuyên, gidu min, phù sa và chịu ảnh hưởng của thủy triểu lên xuống hàng ngày. Nó chính là hệ sinh thái trung gian giữa môi trường nước ngọt và môi trường biển. Rừng ở hệ sinh thái này phát triển mạnh sẽ đem lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế và về mặt sinh thái: «Ổ kinh Về mặt tế: RNM là nơi cung cấp các sản phẩm lâm nghiệp như: than, củi, gỗ, cừ, cột cho xây dựng, thuốc chữa bệnh, mật ong.Bên cạnh đó RNM còn là môi trường thuận lợi cho các loài thủy hải sản như: tôm, cua, cá, ốc, sò, chim thú rừng. sinh sống và sinh sản.
Ngày nay, RNM còn được xem là địa điểm du lịch sinh thái lý tưởng, là nơi nghiên cứu học tập của các nhà khoa học, sinh viên — học sinh; đây chính là hướng quan trọng đem lại nhiễu giá trị lợi nhuận cho đất nước trong tương lai. © Về mặt sinh thái; RNM là môi trường sinh sống của nhiều loài động thực vật quý hiếm và đặt trưng cho nên giúp bảo tổn được sự đa dạng của hệ sinh thái ven biển. Ngoài ra RNM còn có vai trò to lớn trong việc bảo vệ mội trường, điểu hòa khí hậu, hạn chế thiên tai gió bão, bảo vệ vùng biển, chống xói lở và ngăn chặn sự mặn hóa đât liền, đồng thời mở rộng diện tích bãi bồi. « Riêng ở nước ta RNM còn là khu di tích lịch sử của hai cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp và Đế Quốc Mỹ xâm lược.
Diện tích RNM trên thế giới có khoảng 18,1 triệu ha (theo Spalding và cộng sự, 1997)(trich Phạm Văn Ngọt, 2000) {12}. Ở Việt Nam, trước 1943 có khoảng 400.000 ha RNM (theo Maurand, 1943)(trích Phạm Văn Ngọt, 2000) (12], nhưng hiện nay diện tích RNM giảm đi rất nhiều.000 ha, đến năm 1987 chỉ còn 205. RNM đã bị suy giảm cả về diện tích lẫn chất lượng vì nhiều nguyên nhân như chiến tranh hóa học, khai thác bừa bãi, phá RNM làm đầm nuôi tôm, phá rừng để lấy đất để sản xuất nông nghiệp, làm muối, đô thị hóa,. Huyện Cần Giờ thuộc Thành phố Hồ Chi Minh có tổng diện tích 71.631 ha, trong đó có khoảng 40.
Trong chiến tranh Cẩn Giờ là căn cứ kháng chiến, là cửa ngõ của Sài Gòn, Vì vậy từ năm 1962 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã liên tiếp đội bom đạn, chất khai quang với liễu lượng cao xuống RNM Cần Giờ nên 57% diện tích Rừng Sát Cần Giờ bị huỷ diệt, Sau khi mất rừng đất bị xói mòn nghiêm trọng, những vùng đất cao trước đây chỉ bị ngập triểu hàng năm vốn được rừng che chở thì nay trở nên trơ trụi, đất bị hoang hóa, quá trình oxy hóa diễn ra nhanh, đất chuyển sang dạng acid sunphat vừa chua vừa mặn không sử dụng được (Phan Nguyên Hồng, 1990) [5]. Từ năm 1971 đến năm 1978, do nhu cẩu về chất đốt và vật liệu xây dựng tăng lên, trong khi đó lại chưa có kế hoạch phục hồi và bảo vệ, nên phan lớn RNM Cần Giờ đã hoàn toàn bj phá huỷ. Từ năm 1978 đến năm 1995, được sự chỉ đạo của Bộ Lâm Nghiệp và chính quyển Thành phố, nhân dân Cần Giờ TPHCM đã trồng lại trên 20.000 ha RNM mà phần lớn là đước đôi (Rhizophora apiculata) (theo Nguyễn Đình Cương, 1996){2]. Hiện nay Lâm Viên Cẩn Giờ đã trồng thêm nhiều loài như dung (Rhizophora mucronata), trang (Kandelia candel), vet den (Bruguiera sexanguia), cóc trắng (Lumnitzera racemosa).
Và ở bãi bỗi Khe Dinh thuộc Lâm Viên Cần Giờ đang trồng thử nghiệm cây dung (Rhizophora mucronaia), đước đôi (Rhizophora apiculata), ban đắng (Sonneratia alba) trên môi trường đất bôi tụ nơi có mắm trắng (Avicennia alba) tái sinh mạnh mẽ nhằm làm tăng tính đa dang của hệ sinh thái ven biển, qua đó bảo vệ được bộ gen qúy của nhiều loài cây ngập mặn. Đây chính là một trong những hướng nghiên cứu quan trọng cho việc bảo tổn gen (bảo tổn In-situ) tại môi trường tự nhiên trong tương lai. Chúng tôi tiến hành để tài: " Bước đầu nghiên cứu sự tăng trưởng và sinh khối của bốn loài cây ngập mặn trồng ở bãi bồi Khe Dinh Lâm Viên Cần Giờ, TP. Hỗ Chí Minh” nhằm mục đích và nội dung nghiên cứu: * MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: I.Để tài tiến hành nhầm tìm hiểu sự tăng trưởng và sinh khối của một số loài cây ngậb mặn như đưng (Rhizophora mucronata), đước đôi (Rhizophora apiculata), bin đắng (Sonneratia alba), mắm trắng (Avicennia alba) ð bãi bỗổi Khe Dinh thuộc Lâm Viên Cần Giờ nơi trước đây có mắm trắng tái sinh tự nhiên Từ những nghiên cứu cơ bản chúng tôi có cơ sở khoa học để xuất biện pháp chọn các loài cây thích hợp ở các bãi béi ven sông Can Giờ TPHCM nhằm làm tăng độ đa dạng sinh học của hệ sinh thái RNM, qua đó bảo quản được nguồn gen nhiều loài thực vật đặc trưng và thu hút thêm khách du lịch cũng như các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam.
Ngoài ra việc nghiên cứu còn giúp chúng tôi làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học và vận dụng những lý thuyết đã học vào thực tiễn. * NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 1. Nghiên cứu tăng trưởng về các chỉ tiêu: chiéu cao, đường kính thân, số đốt, số rễ của một số loài cây ngập mặn trồng ở bãi bổi Khe Dinh Lâm | Viên Cần Giờ ở giai đoạn 2 tuổi. Nghiên cứu sự bồi tụ của đất, d sGaHnI».
Nghiên Nghiên cứu sinh khối của một số loài cứu khả năng tái sinh của mắm trắng (Avicennia alba) con.~ cây ngập mặn ở giai đoạn 2 tuổi. Tinh chi số điện tích lá trên cây của một số loài cây nies đoạn 2 tuổi. :a C 1 TONG QUAN TAI LIEU Từ lâu hệ sinh thái RNM đã là đối tượng nghiên cứu của rất nhiéu nhà khoa học trên thế giới cũng như của Việt Nam, đặc biệt là trong những năm gin đây trư ớc ngu y cơ suy giả m ngh iêm trọ ng diệ n tích RN M, nhi ều tổ chức quốc tế như FAO, UNESCO, UNDP.rất quan tâm đến vấn để bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên hệ sinh thái RNM quý giá này. Cùng với sự hỗ trợ của chương trình sinh học Quốc Tế (International Biological Program), của tổ chức hành động phục hổi rừng ngập mặn Nhật Bản (ACTMANG).có rất nhiéu công trình nghiên cứu về nhiều mặt của hệ sinh thái RNM như: nghiên cứu sinh khối, tăng trưởng, lượng rơi, tái sinh, Riêng về lĩnh vực nghiên cứu tăng trưởng và sinh khối, trồng rừng có rất nhiéu công trình của các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam: 1.1 Thế giới: « 1959, Steru và Voigh nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn môi trường đến sinh trưởng của cây đước đỏ (Rhizophora mangle).
e 1962 - 1966, Scholander nghiên cứu sinh trưởng của cây đước đỏ (Rhizophora mangle). e 1976, Smithnand nghiên cứu các loài cây ngập man ở Thái Lan. e© 1979, Snedaker nghiên cứu ảnh hưởng của nước ngọt đến sinh trưởng e 1985, Bukurai và Kuraishi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng độ mặn đến sinh trưởng của cây trang (Kandelia candel). e 1995, Havanond và cộng sự của ông nghiên cứu tăng trưởng về chiéu cao, chu vi của đưng (Rhizophora mucronata), vet dù (Bruguiera gymnorrshisa), đước vòi (Rhizophora stylosa).
se 1996, Field trồng so sánh tăng trưởng của 5 loài cây ngập mặn: đước đôi (Rhizophora apiculata), dung (Rhizophora mucronata), da (Ceriops decandra), đước vòi (Rhizophora Stylosa), dừa nước (Nypa fruticans) 3 Philippin. e Ở Malaysia từ năm 1987 - 1992 trồng được 4.300 ha RNM, loài cây chính được trồng là đước đôi (Rhizophora apiculaia) và ding (Rhizophora mucronata) (Chan, 1996). © Ở Ấn Độ trồng 5 loài cây chính: m&m lưỡi đồng (Avicennia genninum), mắm biển (Avicennia marina), đước đôi (Rhizophora apiculata), đưng (Rhizophora mucronata), bliin chua (Sonneratia caseolaris) (A. © © Cuba tring 4 oài cây ngập mặn là: đước đôi (Rhizophora apiculata), dung (Rhizophora mucronata), nắm biển (Avicennia marina), mắm lưỡi đồng (Avicennia genninum) (Soemodihardjo, 1996).
© Ở Banglades trồng 2 loài chính là: ban chua (Sonneratia caseolaris), mắm lưỡi đồng (Avicennia genninum) (N.2 Việt Nam: * Các công trình nghiên cứu của Giáo Su Phan Nguyên Héng (1990, 1991, 1999) vé các lĩnh vực: phân bố, phân loại, diễn thế, sinh thái, sinh khối, sinh lý, năng suất,. Tác giả tích cực đóng gớp nhiều cho việc trồng và phục hdi RNM ở các vùng ven biển của cả nước. e Tiến sỹ Nguyễn Hoàng Trí tiến hành nghiên cứu sinh trưởng, năng suất, sinh khối của đước đôi (Rhizophora apiculata) trồng 3 cà Mau (1986){ 14]. e Tiến sỹ Mai Sỹ Tuấn có nhiều công trình nghiên cứu về cây mắm biển (Avicenia marina)(1996)(ưích Pham Văn Ngọt, 2000) [12].
e Tiến sỹ Trin Văn Ba tập trung nghiên cứu cây dừa nước (Nypa fruticans)(1997)(trich Phan Nguyên Hồng, 1999) [7]. e Viên Ngọc Nam nghiên cứu sinh khối, năng suất của cây đước đôi (Rhizophora apiculata)(1996), và ngién cứu cấu trúc quần xã mắm trắng (Avicennia alba) (1999) tại Lâm Viên Cần Giờ - TPHCM [101. e Nguyễn Đức Tuấn nghiên cứu tăng trưởng và sinh khối của một số loài cây ngập mặn như: đâng (Rhizophora stylosa), trang (Kandelia candel), vet dd (Bruguiera gymnorshisa), đước đôi (Rhizophora apiculata) trồng ở Hà Tinh và Cần Giờ (1994) { 15]. e Nguyễn Thị Ngọc Châm, Lê Thị Vu Lan và Lê Hương Giang nghiên cứu sinh trưởng, tái sinh, năng suất của trang (Kancedila candel) trỗng 3 Thái Thụy — Thái Bình (1998,199){3].
e Phạm Văn Ngọt, Trần Ngọc Đức nghiên cứu sinh trưởng va sinh khối của một số loài cây ngập mặn như: dung (Rhizophora mucronata), cóc trắng (Lumnitzera racemosa), trang (Kendadila candel) trỗng trong các đầm tôm bỏ hoang ở Lâm Viên Cần Giờ (1999, 2000) [12]. e Đỗ Thế Trinh nghiên cứu sinh trưởng của cây mắm trắng (Avencinnia alba), đưng (Rhizophora mucronata) trong ở bãi bồi Khe Dinh Lâm Viên Cần Giờ ở giai đoạn | tuổi (2000) I 6]. Chương 2: ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 21 ~ VỊ trí địa lý: Cần Giờ nim ở phía nam TPHCM với diện tích là 71.361 ha chiếm một phần ba diện tích toàn Thành phố, trong đó rừng chiếm 45%, sông ngòi chiếm 31,94% tổng diện tích của Cần Giờ. Da số rừng ở Can Giờ TPHCM là RNM và được chia thành 24 tiểu khu.
Địa điểm chúng tôi nghiên cứu thuộc tiểu khu 17 (Lâm Viên Cẩn Giờ). Lâm Viên Cần Giờ có diện tích là 2.214 ha (Sơ đồ hình 1) 106° 15’ 45'* -——--> 106° 53' 58" độ kinh Đông. - Đông giáp với tuyến đường Nhà Bè — Cần Giờ. - Bắc giáp với sông Hào Võ.
- Nam giáp với sông Đồng Hoa. - Tây giáp với sông Đồng Tranh.