Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ LÃO HÓA TRÊN HỆ TIM MẠCH 1. Sự dày lên của lớp áo trong mạch máu Các thay đổi liên quan tới tuổi về đặc tính của động mạch (ĐM) có thể làm gia tăng bệnh tim mạch theo hàm số mũ. Các nghiên cứu cắt ngang ở người cho thấy dày và dãn thành mạch là những thay đổi cấu trúc nổi bật xảy ra ở những ĐM có tính đàn hồi lớn trong lúc lão hóa [147].
Khảo sát các trường hợp tử thiết cho thấy thành ĐM chủ dày lên theo tuổi chủ yếu là ở lớp áo trong ngay cả ở những dân số có tỷ lệ mắc xơ vữa động mạch thấp [245]. Các phương pháp đo lường không xâm lấn trong bối cảnh một vài nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy sự dày lớp áo trong thành ĐM cảnh gia tăng gần 3 lần giữa tuổi 20 và 90. Người ta cũng chưa thống nhất về sự gia tăng độ dày lớp áo trong cùng với sự lão hóa ở người được biểu hiện trong giai đoạn sớm của xơ vữa động mạch. Do vậy, sự dày quá mức lớp áo trong theo tuổi có thể tiên đoán bệnh ĐMV yên lặng.
Từ đó, bệnh ĐMV yên lặng sẽ tiến triển tới bệnh ĐMV có triệu chứng lâm sàng, và không có gì phải ngạc nhiên khi gia tăng độ dày lớp áo trong có thể tiên đoán bệnh tim mạch lâm sàng trong tương lai. Một số nghiên cứu về dịch tễ học mà bước đầu chưa loại trừ được bệnh tim mạch tiềm ẩn đã cho thấy sự gia tăng độ dày lớp áo trong thành mạch là một chỉ số độc lập cho biến cố tim mạch trong tương lai [97]. Áp lực, độ cứng và rối loạn chức năng nội mạc Huyết áp ĐM được xác định bởi sự tương tác của sức đề kháng mạch máu ngoại biên và độ cứng của thành ĐM; sức đề kháng mạch máu ngoại biên làm gia tăng huyết áp tâm thu và tâm trương với mức độ tương tự nhau. Mặc khác, độ cứng của thành ĐM làm gia tăng huyết áp tâm thu nhưng huyết áp tâm trương thấp hơn.
Huyết áp tâm thu trung bình gia tăng theo tuổi đã được chứng minh rõ, ngược lại huyết áp tâm trương trung bình thường thấy tăng cho tới khoảng 50 tuổi, ngưng lại khoảng 50-60 tuổi và giảm sau đó (biểu đồ 1. 5 Sự giảm huyết áp tâm trương do sự giảm độ đàn hồi của ĐM chủ trong thời kì tâm thu, làm tăng vận tốc của sóng phản hồi mạch và do đó góp phần làm gia tăng huyết áp tâm thu bằng cách giải phóng máu dự trữ trong thời kì tâm trương. Vì vậy, áp lực mạch (huyết áp tâm thu trừ cho huyết áp tâm trương), là một chỉ số huyết động học hữu ích để xác định độ cứng của ĐM, gia tăng theo tuổi. Sự thay đổi huyết áp tâm thu, tâm trương và áp lực mạch liên quan tới tuổi được thấy ở cả người trẻ hơn mà ở những người này huyết áp được xác định chủ yếu bởi sức đề kháng mạch máu ngoại biên, trong khi ở NCT nó được xác định chủ yếu bởi độ cứng mạch máu trung tâm [97].
Huyết áp tâm thu và tâm trương thay đổi theo các lứa tuổi ở nam giới và nữ giới. “Nguồn: Franklin SS, 1997” [98]. Do giảm huyết áp tâm trương ở NCT nam và nữ nên tăng huyết áp tâm thu đơn độc là dạng thường gặp ở người trên 50 tuổi [94]. Tăng huyết áp tâm thu đơn độc ngay cả ở mức độ nhẹ cũng làm gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch.
Tuy nhiên, dựa trên các nghiên cứu theo dõi dọc trên đối tượng người trung niên và cao tuổi, các nhà nghiên cứu Framingham cho thấy áp lực mạch có giá trị tiên đoán nguy cơ bệnh ĐMV tốt hơn huyết áp tâm thu hoặc tâm trương [107]. 6 Có những cơ chế bù trừ để bình thường hóa huyết áp nhưng mất dần ở NCT. Rối loạn chức năng nội mạc trở nên rõ ràng hơn ở thập niên thứ sáu, trong khoảng thời gian này khi mà áp lực mạch gia tăng một cách rõ rệt. Vì vậy, sự suy giảm chức năng nội mạc cùng với sự lão hóa có thể là cơ chế không chỉ làm áp lực mạch tăng mà còn là yếu tố nguy cơ cho biến cố tim mạch và tử vong, ngay cả sau khi điều chỉnh được huyết áp tâm thu [94], [98], [107].
Cấu trúc tim Linsbach và cộng sự thực hiện tử thiết trên 7.112 bệnh nhân bao gồm các trường hợp bệnh tim mạch cho thấy có sự gia tăng khối cơ tim từ 1-1,5 gam mỗi năm giữa độ tuổi 30 và 90. Một nghiên cứu tử thiết khác trên 765 trường hợp có tim bình thường, tuổi từ 20 – 99, không có cả tăng huyết áp và bệnh ĐMV cho thấy chỉ số khối lượng cơ tim với diện tích bề mặt cơ thể không liên quan tới tuổi ở nam nhưng gia tăng theo tuổi ở nữ chủ yếu giữa thập niên thứ tư và thứ bảy [139]. Từ khi siêu âm được ứng dụng rộng rãi, việc đánh giá các thay đổi theo tuổi về cấu trúc và chức năng tim được chính xác hơn. Gerstenblith và cộng sự cho thấy có 25% gia tăng độ dày thành sau thất trái trên siêu âm tim giữa thập niên thứ ba và thứ tám, và điều này cũng được thấy ở một số nghiên cứu khác [103], [104].
Gần đây, một số tác giả đã dùng hình ảnh cộng hưởng từ để đánh giá khối lượng cơ thất trái. Trong một nghiên cứu trên 136 nam và 200 phụ nữ không có bệnh tim mạch, độ dày thành cơ thất trái tính dựa trên cộng hưởng từ gia tăng theo tuổi, đường kính tâm trương không liên quan tới tuổi, tương tự với một số nghiên cứu dựa vào siêu âm trước đây. Ngược lại, chiều dài thất trái giảm theo tuổi ở cả hai giới [120]. Mặc dù cơ chế của tái cấu trúc thất trái liên quan tới tuổi và gia tăng kích thước tế bào cơ không được rõ, nhưng có giả thiết cho rằng chúng thích nghi với sự thay đổi của ĐM đi cùng với sự lão hóa.
Động mạch vành tim ở người cao tuổi Cùng với sự lão hóa, ĐMV có khuynh hướng dãn và xoắn nhiều hơn có thể do tác động của huyết động học. Tuần hoàn bàng hệ cũng gia tăng về kích thước theo tuổi, nhưng không rõ có hay không điều này độc lập với tình trạng xơ vữa ĐM. 7 Trong khi xơ vữa ĐM luôn luôn được xem là một tiến trình bệnh, thì vôi hóa Monckeberg (là tình trạng lắng đọng can-xi ở lớp áo giữa của thành ĐM) có lẽ đại diện cho một tiến trình thoái hóa liên quan tới tuổi. Nó được thấy rất phổ biến gần đây ở người rất cao tuổi và độc lập với giới.
Ở mạch máu ngoại biên, nó có thể góp phần làm gia tăng huyết áp tâm thu và kháng lực mạch. Một hội chứng thường thấy ở NCT và ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối là bộ ba vôi hóa tim mạch bao gồm vôi hóa lá van ĐM chủ, vòng van hai lá và ĐMV, được gọi là hội chứng vôi hóa tuổi già. Ở những bệnh nhân cao tuổi này, không có bằng chứng nói lên sự thay đổi về chuyển hóa can-xi và mặc dù có mối liên hệ với sự gia tăng nồng độ cholesterol trong huyết thanh nhưng nguyên nhân vẫn chưa được rõ [86]. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG ĐỘNG MẠCH VÀNH 1.
Giải phẫu ĐMV bình thường Có hai nhánh ĐMV chính: ĐMV trái và ĐMV phải xuất phát ở gốc ĐM chủ qua trung gian là những xoang Valsava và chạy trên bề mặt của tim (giữa cơ tim và ngoại tâm mạc). Những xoang vành có vai trò như một bình chứa để duy trì một cung lượng vành khá ổn định [154]. ĐMV trái: Thân chung ÐMV trái (LM): xuất phát từ xoang vành trái đến chổ xuất phát của ÐM xuống trước trái (LAD) và ĐM mũ trái (LCX), đường kính khoảng từ 3-6 mm và dài từ 0-10 mm, nhìn rõ nhất khi chụp tư thế chếch trái 50◦-chân 30◦. LAD đi trong rãnh liên thất trước tới mõm tim, gồm có các nhánh chính là các nhánh vách và các nhánh chéo.
Nhánh vách của LAD có thể nối với nhánh vách xuất phát từ ÐM liên thất sau của ÐMV phải tạo thành hệ thống tuần hoàn bàng hệ khá phong phú. Nhánh chéo của LAD chạy phía mặt trước bên của tim, và có thể có một hoặc nhiều nhánh chéo. Trong 80% trường hợp, LAD chạy vòng ra tới mỏm tim. LAD nhìn rõ ở các tư thế chụp: chếch phải 20◦-chân 30◦; chếch phải 10◦ -đầu 40◦; chếch trái 30◦-đầu 30◦; chếch trái 50◦-chân 30o.
LCX bắt nguồn từ chổ phân nhánh của LM đi xuống theo rãnh nhĩ thất trái, thường có từ 1 tới 3 nhánh bờ. LCX nhìn rõ ở các tư thế chụp: chếch phải 30◦, chếch phải 20◦-chân 30◦; chếch trái 10◦-đầu 40◦. 8 Trong trường hợp đặc biệt LAD và LCX xuất phát từ hai thân riêng biệt ở ĐM chủ, khi đó hầu như không có thân chung ĐMV trái. Hình ảnh ĐMV trái qua chụp mạch vành có cản quang.
“Nguồn: Lincoff AM, 1997” [154]. ÐMV phải (RCA): Hình 1. Hình ảnh ĐMV phải qua chụp mạch vành có cản quang. “Nguồn: Lincoff AM, 1997” [154].
Từ xoang vành đi vào rãnh liên nhĩ phải tới mỏm tim. RCA có các nhánh chính: ÐM nón, ÐM nút xoang nhĩ, ÐM liên thất sau. Khi RCA chiếm ưu thế, nó cho ra nhánh xuống sau chạy trong rãnh liên thất sau rồi phân ra những nhánh vách. 9 nuôi phần dưới vách liên thất.
Sau khi cho nhánh xuống sau, RCA tiếp tục chạy trong rãnh nhĩ thất và có tên gọi là đoạn sau bên, cho ra một số nhánh sau thất trái, tiếp tục cho ra nhánh nhĩ thất nuôi nút nhĩ thất trong 90% các trường hợp. RCA nhìn rõ ở các tư thế: chếch trái 30◦, chếch phải 30◦, chếch trước trái 60◦-đầu 25◦. Thuật ngữ chiếm ưu thế (trội) chỉ ĐMV nào cho ra nhánh xuống sau và nhánh nuôi thành sau thất trái. RCA chiếm ưu thế trong 85% trường hợp, LCX chiếm ưu thế trong 8% trường hợp và 7% trường hợp là cân bằng: RCA tận cùng bằng nhánh xuống sau, còn LCX sẽ cho nhánh nuôi thành sau thất trái.
Bất thường bẩm sinh động mạch vành Bất thường bẩm sinh ĐMV chiếm khoảng 0,6-1,6% các trường hợp chụp ĐMV. Dựa trên thống kê của trung tâm Cleveland năm 1990 [255] chụp mạch vành cho 126.