Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận liên quan đến sự hài lòng của thực tập sinh kỹ năng với dịch vụ Tuyển chọn Đào tạo Chương 3: Phương pháp nghiên cứu sự hài lòng của thực tập sinh kỹ năng Việt Nam với dịch vụ Tuyển chọn Đào tạo Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu sự hài lòng của thực tập sinh kỹ năng Việt Nam với dịch vụ Tuyển chọn Đào tạo Chương 5: Kết luận và đề xuất nâng cao sự hài lòng của thực tập sinh kỹ năng Việt Nam với dịch vụ Tuyển chọn Đào tạo 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA THỰC TẬP SINH KỸ NĂNG VỚI DỊCH VỤ TUYỂN CHỌN ĐÀO TẠO 2.1 Khái niệm liên quan Chế độ Thực tập sinh kỹ năng dành cho người nước ngoài tại Nhật Bản 2.1 Chế độ Thực tập kỹ năng đối với người nước ngoài Chế độ thực tập kỹ năng cho người nước ngoài là một chế độ được xây dựng tại Nhật Bản vào năm 1993 nhằm mục đích góp phần "phát triển nguồn nhân lực" gánh vác trọng trách phát triển nền kinh tế của các khu vực đang phát triển,. thông qua việc chuyển giao những kỹ năng, kỹ thuật hay kiến thức đã tích lũy của Nhật Bản cho các khu vực đó. Từ tháng 11 năm 2017, “Luật về việc thực hiện đúng đắn chế độ thực tập kỹ năng và việc bảo hộ thực tập sinh kỹ năng” (gọi tắt là “Luật Thực tập kỹ năng”) được thực thi và một chế độ thực tập kỹ năng mới đã được bắt đầu (JITCO, 2016). "Chế độ thực tập kỹ năng dành cho người nước ngoài" nhằm giúp người lao động từ các quốc gia khác học hỏi các kỹ năng trong các ngành kinh tế của Nhật Bản và sau đó trở về nước để vận dụng những kỹ năng đã học để góp phần phát triển các ngành kinh tế của đất nước mình.
Thời hạn thực tập tối đa là 5 năm, việc tiếp thu các kỹ năng diễn ra trên cơ sở kế hoạch đào tạo cho thực tập sinh do đơn vị tiếp nhận lập sẵn (OTIT, 2021, tr.2 Nội dung thực tập trong 5 năm tại Nhật Bản Theo OTIT (2021, tr.10), chương trình thực tập gồm 3 giai đoạn, có thể về nước sau khi kết thúc giai đoạn 2: Giai đoạn 1 (năm thứ 1): “Chương trình thực tập kỹ năng số 1” Trong giai đoạn này, đầu tiên là học lý thuyết ngay sau khi đến Nhật Bản. Nội dung cụ thể như sau: - Tiếng Nhật - Các kiến thức chung về cuộc sống tại Nhật Bản - Kiến thức luật pháp cần thiết trong quá trình thực tập. 8 Sau đó, sẽ tiếp tục học hỏi các kỹ năng theo hợp đồng lao động đã thỏa thuận với Công ty tiếp nhận. Nếu có dự định tiếp tục chuyển sang chương trình thực tập kỹ năng số 2 thì cần phải tham dự kỳ thi thực hành và thi lý thuyết của kỳ thi đánh giá kết quả thực tập kỹ năng nên TTS cần đặt ra mục tiêu vượt qua kỳ thi trình độ sơ cấp.
Giai đoạn 2 (năm thứ 2, năm thứ 3): “Chương trình thực tập kỹ năng số 2” Khi chuyển sang giai đoạn thực tập kỹ năng số 2, để thành thạo hơn nữa các kỹ năng đã học ở giai đoạn kỹ năng số 1, về nguyên tắc cần phải tiếp tục thực tập kỹ năng tại cùng một đơn vị tiếp nhận. Khi kết thúc giai đoạn thực tập kỹ năng số 2, bắt buộc phải tham gia kỳ thi đánh giá kết quả thực tập kỹ năng nên TTS phải thiết lập mục tiêu vượt qua kỳ thi thi thực hành cấp độ 3 (hay còn gọi là cấp chuyên môn). Giai đoạn 3 (năm thứ 4, năm thứ 5): “Chương trình thực tập kỹ năng số 3” (không bắt buộc) Giai đoạn thực tập kỹ năng số 3 giúp TTS trau dồi, hoàn thiện thêm các kỹ năng đã nắm vững ở giai đoạn số 2 nên có thể được tiếp tục thực tập tại các Đoàn thể quản lý và Đơn vị tiếp nhận ưu tú. Khi chuyển từ giai đoạn thực tập kỹ năng số 1 sang giai số 2, về nguyên tắc TTS cần phải tiếp tục thực tập kỹ năng tại cùng một Đơn vị tiếp nhận nhưng khi chuyển sang giai đoạn số 3 sẽ không còn bị hạn chế việc Đơn vị tiếp nhận phải giống với giai đoạn số 2 nữa, mà thực tập sinh kỹ năng sẽ được tự chọn Đơn vị tiếp nhận.3 Khái niệm về Thực tập sinh kỹ năng, Cơ quan phái cử, Đoàn thể giám sát, Xí nghiệp tiếp nhận Theo các thông tin hướng dẫn từ Hiệp hội thực tập kỹ năng quốc tế (OTIT), Tổ chức hợp tác tu nghiệp quốc tế (JITCO), có thể hiểu một số khái niệm liên quan như sau: - Thực tập sinh kỹ năng: là người lao động được phái cử sang Nhật làm việc theo "Chế độ thực tập kỹ năng dành cho người nước ngoài tại Nhật Bản" - Cơ quan phái cử: còn được gọi là "Công ty phái cử", có thể hiểu là công ty trung gian tại Việt Nam, có chức năng tiến hành tổ chức phỏng vấn tuyển chọn, đào 9 tạo, làm thủ tục hồ sơ cho TTS sang Nhật và phối hợp cùng nghiệp đoàn quản lý TTS trong 3-5 năm tại Nhật theo đúng quy định và pháp luật 2 nước.
- Đoàn thể giám sát: còn được gọi là "Nghiệp đoàn" là tổ chức trung gian tại Nhật, chịu trách nhiệm phối hợp với Cơ quan phái cử quản lý đời sống và công việc của TTS trong thời gian làm việc tại Nhật theo đúng quy định và pháp luật 2 nước. - Đơn vị tiến hành thực tập: còn được gọi là "Xí nghiệp tiếp nhận" hay "Đơn vị tiếp nhận" là nơi mà TTS sẽ làm việc trực tiếp trong 3-5 năm tại Nhật. Trong khuôn khổ luận văn, sẽ đề cập đến sự hài lòng của TTS trong giai đoạn được kết nối phỏng vấn với Xí nghiệp tiếp nhận và được đào tạo trước khi sang Nhật, tức là sự hài lòng đối với các dịch vụ của "Cơ quan phái cử" khi ở Việt Nam.4 Phương thức tiếp nhận Thực tập sinh kỹ năng Theo JITCO (2016), có 2 hình thức tiếp nhận thực tập sinh kỹ năng là “Doanh nghiệp tự tiếp nhận” và “Đoàn thể giám sát tiếp nhận”. - "Doanh nghiệp tự tiếp nhận": là hình thức mà các doanh nghiệp của Nhật Bản (đơn vị tiến hành thực tập) tự đứng ra tiếp nhận nhân viên của công ty con ở nước ngoài, công ty liên doanh hay doanh nghiệp đối tác và tiến hành thực tập kỹ năng.
Hình thức này chiếm khoảng 2,8% số lượng TTS hiện tại. - “Đoàn thể giám sát tiếp nhận”: Các tổ chức như Hội các công ty vừa và nhỏ hay Hội công thương (đoàn thể giám sát) đứng ra tiếp nhận thực tập sinh kỹ năng và cho tiến hành thực tập kỹ năng tại các đơn vị, xí nghiệp trực thuộc (đơn vị tiến hành thực tập). Hình thức này chiếm khoảng 97,2% số lượng TTS hiện tại. Do đó, nội dung nghiên cứu trong Luận văn sẽ đề cập liên quan đến phương thức thứ 2 (thông qua "Đoàn thể giám sát").1 mô tả hình thức tiếp nhận thực tập sinh kỹ năng thông qua đoàn thể giám sát.1: Mô hình phái cử người lao động từ nước ngoài sang Nhật Bản Nguồn: Japan International Trainee & Skilled Worker Cooperation Organization Tóm lại, có thể hiểu người lao động Việt Nam muốn sang Nhật để làm việc và thực tập cần thông qua "Cơ quan phái cử (thường gọi là "công ty phái cử") tại Việt Nam để tiến hành các thủ tục, phỏng vấn đào tạo tiếng, hồ sơ… và khi sang Nhật cần thông qua "Đoàn thể giám sát" (thường gọi là "nghiệp đoàn") để tiến hành thủ tục liên quan và chăm sóc chịu trách nhiệm trong 3-5 năm làm việc tại "Đơn vị tiến hành thực tập" (còn gọi là "Xí nghiệp tiếp nhận").
Khi làm việc tại nhật như vậy, người lao động được gọi là "Thực tập sinh kỹ năng" 2.5 Các Luật và văn bản pháp lý áp dụng đối với chương trình TTS kỹ năng Việt Nam Tại Việt Nam - Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 và 2020 Nội dung liên quan: Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực người lao 11 động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; đào tạo kỹ năng nghề, định hướng, đào tạo ngoại ngữ cho người lao động; Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước; các chính sách hướng tới người lao động; quản lý nhà nước trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Theo đó, là một số nghị định, thông tư liên quan như: - Nghị định 126/2007/NĐ-CP. Nội dung: hướng dẫn chi tiết Luật người lao động Việt Nam đi làm việc nước ngoài; - Thông tư 21/2001/TT-BLĐTBXH. Nội dung: hướng dẫn chi tiết Luật người lao động Việt Nam đi làm việc nước ngoài; - Thông tư 22/2013/TT-BLĐTBXH. Nội dung: mẫu hợp đồng cung ứng lao động và hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc nước ngoài; - Quyết định 1012/QĐ-LĐTBXH năm 2013.
Nội dung: quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý lao động ngoài nước do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành. - Công văn số 1123/LĐTBXH-QLLĐNN. Nội dung: Tiếp tục thực hiện các biện pháp chấn chỉnh đưa TTS VN sang NB năm 2016 Luật trong quá trình lưu trú tại Nhật - Luật thực tập kỹ năng: Quy định các hành vi bị nghiêm cấm, nhằm bảo vệ thực tập sinh kỹ năng. Khi thấy có hành vi vi phạm pháp luật, thực tập sinh kỹ năng có thể tố cáo với Cục trưởng Cục quản lý xuất nhập cảnh và Bộ trưởngBộ lao động, phúc lợi.
Quy định Hiệp hội phải tiến hành giải đáp tư vấn, hỗ trợ, bảo hộ thực tập sinh kỹ năng. - Luật quản lý xuất nhập cảnh và công nhận tị nạn: Quy định về tư cách (tư cách lưu trú) để người nước ngoài lưu trú một cách hợp pháp tại Nhật Bản và quy định các hoạt động được phép tiến hành tại Nhật Bản. - Luật mức lương tối thiểu-Luật vệ sinh an toàn lao động-Luật tiêu chuẩn lao động: Toàn bộ TTS kỹ năng sẽ làm việc với tư cách là TTS kỹ năng theo mối quan hệ tuyển dụng với Đơn vị tiến hành thực tập do đó sẽ được áp dụng các luật tiêu 12 chuẩn lao động giống như những bộ phận lao động khác đang sinh sống và làm việc tại Nhật. Các loại Luật pháp này quy định tiêu chuẩn tối thiểu về điều kiện lao động.