Chương 1. Giới thiệu tổng quát về CLDVHCC, tính cấp thiết hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và kết cấu luận văn. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày các khái niệm về CLDVHCC và các cách tiếp cận đánh giá CLDVHCC dựa theo các nghiên cứu trước đây. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu kiểm định.
Phương pháp nghiên cứu: Trình bày thiết kế phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu và thu thập xử lý dữ liệu. Thực hiện các bước nghiên cứu định lượng tương ứng với từng giai đoạn nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu: Phân tích dữ liệu trên phần mềm thống kê SPSS 20.0, trình bày kết quả nghiên cứu: Đánh giá độ tin cậy bằng thang đo dựa trên hệ số tin cậy CronbachAlpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA); phân tích hồi quy đa biến; phân tích ANOVA các đặc điểm cá nhân đến sự hài lòng của người dân đối với CLDVHCC tại Trung tâm. Kết luận và hàm ý quản trị: Thảo luận kết luận nghiên cứu và trình bày một số hàm ý quan trị nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với 6 CLDVHCC tại Trung tâm trong thời gian tới.
Chương này cũng trình bày các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ ngành sản xuất nào đó hay cho nền kinh tế độc lập. Có rất nhiều khái niệm về dịch vụ. Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là một loại sản phẩm kinh tế, không phải là vật phẩm, mà là công việc của một con người dưới hình thái là lao động thể lực, kiến thức và kỹ năng chuyên môn, khả năng tổ chức và thương mại.
Sản phẩm dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt không nhìn thấy trước và chỉ được biết đến khi nó được sử dụng. Có thể hiểu dịch vụ là hoạt động phục vụ thỏa mãn những nhu cầu cá nhân hay tập thể trong sản xuất và sinh hoạt. Kotler (1991) cho rằng “Dịch vụ là là hàng hoá đặc biệt mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và cũng có thể không liên quan đến hàng hóa vật chất”.
Zeithaml (2000) quan điểm rằng, dịch vụ là những hành vi, là cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thõa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Trong khi đó, Svensson (2002) cho rằng dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Trong quá trình tiêu dùng dịch vụ, CLDV thể hiện trong quá trình tương tác giữa người tiêu dùng và người cung cấp dịch vụ. Dịch vụ có các đặc tính phổ biến là: 1) Tính đồng thời, không thể tách rời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời.
Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia; 2) Tính không đồng nhất: không có chất lượng đồng nhất, vì dịch vụ bắt nguồn từ sự khác nhau về tính chất tâm lý, trình độ của từng nhân viên, ngoài ra 8 còn chịu sự đánh giá cảm tính của từng khách hàng; 3) Tính vô hình: không có hình hài rõ rệt, không thể thấy trước khi tiêu dùng do đó rất khó hiểu được cảm nhận của người tiêu dung đối với CLDV; và 4) Tính không lưu trữ được: không lập kho để lưu trữ như hàng hóa hữu hình được.2 Khái niệm về Dịch vụ công Dịch vụ công có thể được hiểu là “hoạt động phục vụ các nhu cầu chung thiết yếu, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, do Nhà nước can thiệp vào việc cung cấp dịch vụ nhằm đảm bảo trật tự, lợi ích chung và công bằng xã hội” (Hải, 2008). Với khái niệm này, dịch vụ công bao gồm DVHCC và dịch vụ công cộng. DVHCC liên quan đến việc phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và phục vụ hoạt động QLNN, nên về cơ bản dịch vụ này do CQNN các cấp thực hiện. Theo Perry và Wise (1990), dịch vụ công là dịch vụ mà do Chính phủ cung cấp để thoả mãn nhu cầu về lợi ích chung.
Dịch vụ công còn được định nghĩa là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay uỷ nhiệm cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội (Mai, 2006). Trên góc độ QLNN ở Việt Nam, dịch vụ công được hiểu là hoạt động phục vụ các nhu cầu thiết yếu trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, sự nghiệp kinh tế do CQNN có nhiệm vụ thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước. Cũng ở Việt Nam hiện nay, dịch vụ công tập trung nhiều vào chức năng phục vụ xã hội của nhà nước, chứ không tập trung các chức năng: như công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao, v.v… qua đó, có thể thấy vai trò chủ thể của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng. Đây là hoạt động không vụ lợi, không vì mục đích kinh doanh và hoạt động theo các tiêu chí, quy định của nhà nước.
Những đặc tính cơ bản của dịch vụ công gồm: 1) Là một loại hàng hóa mà khi đã 9 được tạo ra thì bắt buộc phải sử dụng nó; 2) Việc sử dụng dịch vụ của người này không làm ảnh hưởng lượng sử dụng dịch vụ của người khác; 3) Hàng hóa này không thể bỏ được (hàng hóa công cộng vẫn tồn tại khi không được dùng tới). Theo Mai (2006) có thể phân biệt ba nhóm dịch vụ chủ yếu gồm: 1) Nhóm DVHCC: Các dịch vụ ở nhóm này hầu hết thỏa mãn hai tiêu chí của dịch vụ công là không cạnh tranh và không loại trừ trong tiêu dùng, như: cấp giấy phép, đăng ký, đăng kiểm, công chứng, v.; 2) Nhóm dịch vụ công cộng: Chủ yếu là những dịch vụ đáp ứng tiêu chí không cạnh tranh trong tiêu dùng, đó là: giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, v.; và 3) Nhóm dịch vụ công ích: Chủ yếu là những dịch vụ thỏa mãn tiêu chí không loại trừ trong tiêu dùng, như vệ sinh môi trường, cấp thoát nước, giao thông công cộng, v.3 Khái niệm về Dịch vụ hành chính công Theo Nghị định 43/2011/NĐ-CP, DVHCC là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do CQNN, hoặc tổ chức, doanh nghiệp được uỷ quyền có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các lạo giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực CQNN đó quản lý. DVHCC được xem như là những hoạt động giải quyết các công việc cụ thể liên quan đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân đuợc thục hiện dựa vào thẩm quyền hành chính - pháp lý của Nhà nuớc (Hiến pháp, 2003). Nói cách khác, DVHCC là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các CQHCNN thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý Nhà nước (Mai, 2006).
Nghiên cứu của Dũng (2021) cho rằng, DVHCC trong nghiên cứu này là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân không vì lợi nhuận, do các CQHCNN thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính - pháp lý của Nhà nước. Tuy nhiên, một số quốc gia không dùng khái niệm DVHCC mà chỉ sử dụng khái niệm “dịch vụ công” cho tất cả các lọai dịch vụ mà quốc gia đó cung cấp. 10 DVHCC do các CQHCNN thực hiện thông qua 2 chức năng cơ bản: Chức năng QLNN đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và chức năng cung ứng dịch vụ công cho tổ chức và công dân. DVHCC có đặc trưng riêng, phân định nó với lọai dịch vụ công cộng khác (Hiến pháp, 2003): Thứ nhất, việc cung ứng DVHCC luôn gắn với thẩm quyền và hoạt động của các CQHCNN, mang tính quyền lực pháp lý trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công dân như cấp các lọai giấy phép, giấy khai sinh, công chứng, hộ tịch, v.v… Thẩm quyền hành chính pháp lý thể hiện dưới hình thức các DVHCC nhằm giải quyết các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, là hoạt động phục vụ công dân từ phía các CQHCNN.
Các họat động này không thể ủy quyền cho bất kỳ tổ chức nào ngòai CQHCNN thực hiện và chỉ có hiệu lực khi được CQHCNN thực hiện mà thôi. Vì vậy, nhu cầu được cung ứng các DVHCC của người dân (khách hàng) không phải là nhu cầu tự thân của họ mà xuất phát từ các quy định có tính chất bắt buộc cùa Nhà nước. Nhà nước bắt buộc và khuyến khích mọi người thực hiện các quy định này nhằm đảm bảo trật tự và an tòan xã hội, thực hiện chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội; Thứ hai, DVHCC nhằm phục vụ cho hoạt động QLNN. DVHCC bản thân chúng không thuộc về chức năng QLNN, nhưng lại là họat động nhằm phục vụ cho chức năng QLNN.
Vì vậy, hiện nay trong nghiên cứu khoa học pháp lý đã đặt ra vấn đề xung quanh việc tách bạch chức năng hành chính và chức năng quản lý trong họat động của CQHCNN; Thứ ba, DVHCC là những họat động không vụ lợi, chỉ thu phí và lệ phí nộp ngân sách nhà nước (theo quy định chặt chẽ của CQNN có thẩm quyền). Nơi làm dịch vụ không trực tiếp hưởng lợi từ nguồn thu này; Thứ tư, mọi công dân và tổ chức đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các DVHCC với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền. Nhà nước có trách nhiệm và nghĩa vụ phục vụ công dân trên nguyên tắc công bằng, bảo đảm sự ổn định, bình đẳng và hiệu quả của hoạt động quản lý xã hội.