chương 1 giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2 tác giả trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Tác giả tóm tắt phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn ở chương 3. Ở chương 4 sẽ là phần trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Cuối cùng, chương 5 là kết luận và hàm ý quản trị của tác giả đưa ra. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng Trong phần này, tác giả giới thiệu cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ, trên cơ sở đó xây dựng mô hình nghiên cứu. Phần này gồm có ba nội dung chính, cụ thể phần một sẽ là trình bày các khái niệm về dịch vụ, dịch vụ ngân hàng và chất lượng dịch vụ.
Phần hai là giới thiệu các khái niệm về sự hài lòng của khách hàng theo quan điểm Kotler, Fornell , Hansemark và Albinsson. Trong phần cuối cùng, tác giả sẽ trình bày mối quan hệ giữa sự hài lòng của khách hàng với chất lượng dịch vụ. Khái niệm dịch vụ Theo Philip Kotler (1987), dịch vụ là những sản phẩm mang tính chất vô hình và không gắn liền với quyền sở hữu một vật nào cả. Vì là sản phẩm nên dịch vụ vẫn được cung cấp bởi chủ thể này cho chủ thể kia, việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không gắn liền với một sản phẩm vật chất nào.
Còn Gronröos (1990) cho rằng dịch vụ là một hoặc một chuỗi các hoạt động có tính chất vô hình ít nhiều trong đó và biểu hiện ra trong các tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ hoặc hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ. Dịch vụ được cung cấp dưới dạng các giải pháp để giải quyết những vấn đề của khách hàng. Theo Bùi Nguyên Hùng (2004) thì: “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đãi và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng”.
Theo Nguyễn Thượng Thái (2006), lý thuyết về marketing dịch vụ cho rằng dịch vụ bao gồm bốn đặc điểm cơ bản là vô hình, không đồng nhất, không thể tách ly và không thể cất trữ. 7 Thứ nhất, phần lớn dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình. Dịch vụ không thể cân, đong, đo, đếm, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi mua, để kiểm tra chất lượng. Với lý do vô hình, nên công ty cảm thấy rất khó khăn trong việc tìm hiểu khách hàng nhận thức như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ.
Thứ hai, dịch vụ không đồng nhất, đặc biệt đối với những dịch vụ có hàm lượng cao về sức lao động của con người. Lý do là hoạt động của dịch vụ thường thay đổi từ các nhà cung cấp dịch vụ, từ khách hàng, và chất lượng dịch vụ cung cấp cũng không như nhau theo từng ngày, tháng và năm kinh doanh. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên cũng sẽ rất khó đảm bảo và những gì mà công ty dự định phục vụ thì có thể hoàn toàn khác với những gì mà khách hàng nhận được. Thứ ba, sản xuất và tiêu thụ đối với nhiều loại hình dịch vụ thì không thể tách rời.
Chất lượng của dịch vụ không thể sản xuất trong nhà máy, rồi chuyển nguyên hiện trạng dịch vụ đến khách hàng. Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ. Cuối cùng, vì dịch vụ có tính vô hình nên người cung cấp và khách hàng không thể cất trữ, lưu giữ hoặc vận chuyển chúng. Dịch vụ là sản phẩm được sử dụng ngay khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó, không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng, chỉ biết sau khi có sự trải nghiệm và đánh giá của khách hàng.
Như vậy, từ các nhận định nêu trên, có thể hiểu rằng theo một cách tổng quát dịch vụ chính là một sản phẩm hàng hóa nhưng mang tính phi vật chất, tạo ra các giá trị hữu ích cho các cá nhân hoặc tổ chức thông qua năng lực của nhà cung cấp dịch vụ. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Hiện đang có khá nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng, trong nội dung nghiên cứu của luận văn, ta có thể đề cập đến một số các quan điểm sau: Theo Nguyễn Chí Trung (2006) cho rằng: “Dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán…mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài 8 sản…và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy”. Trong khi đó, theo quan điểm của Hà Thạch (2012) thì: “Dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng như huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngoại hối…mà thông qua kênh ngân hàng thương mại các dịch vụ này được cung ứng cho nền kinh tế”. Còn Nguyễn Thành Công cho rằng: “Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động trung gian về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối…của ngân hàng nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và đem lại nguồn lợi nhuận tốt nhất cho ngân hàng cung ứng dịch vụ”.
Từ những quan điểm nêu trên, cho thấy ở Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào về dịch vụ ngân hàng nhưng vẫn có một số điểm chung. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, ta có thể hiểu dịch vụ ngân hàng bao gồm các hoạt động liên quan đến tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) và được áp dụng tại nhiều nước phát triển. Khái niệm chất lượng dịch vụ Không giống như sản phẩm hữu hình có thể được đo lường bằng các chỉ số độ bền, số lỗi ( Crosby 1979; Gavin 1983); dịch vụ là một sản phẩm vô hình, cho nên việc đánh giá chất lượng dịch vụ thường không có quy chuẩn cụ thể và thường được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào môi trường nghiên cứu.Juran (2001), “Chất lượng dịch vụ là sự phù hợp khi sử dụng, điều này sẽ được đánh giá bởi người dùng”.
Định nghĩa và phương pháp đánh giá chất lượng được các nhà nghiên cứu thường dùng để đề cập trong các nghiên cứu của mình là: Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ (Parasuraman, Zeithaml and Berr, 1985, 1988). Ngoài ra, khái niệm về chất lượng dịch vụ còn là kết quả của sự so sánh của khách hàng, được tạo ra giữa sự mong đợi của họ về dịch vụ đó và sự cảm nhận của họ khi sử dụng dịch vụ đó (Lewis và Booms, 1983; Gronroon, 1984; Parasuraman và các cộng sự, 1985, 1988, 1991). Sự hài lòng của khách hàng Theo Fornell (1995) sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, được định nghĩa như là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó. Theo Hansemark và Albinsson (2004), “Sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn”.
Kotler (2000), định nghĩa “Sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ”. Như vậy, sự hài lòng của khách hàng là việc khách hàng căn cứ vào những hiểu biết của mình đối với một sản phẩm hay dịch vụ mà hình thành nên những đánh giá hoặc phán đoán chủ quan. Đó là sự so sánh giữa lợi ích thực tế cảm nhận được và những kỳ vọng. Nếu lợi ích thực tế không như kỳ vọng thì khách hàng sẽ thất vọng.
Còn nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng đã đặt ra thì khách hàng sẽ hài lòng. Nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng của khách hàng thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng là chủ đề được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn luận liên tục trong các thập kỷ qua. Nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng trong các ngành dịch vụ đã được thực hiện.
Một số tác giả cho rằng giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có sự trùng khớp vì thế hai khái niệm này có thể sử dụng thay thế cho nhau. Tuy nhiên, qua nhiều nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng là hai khái niệm phân biệt. Parasuraman và các cộng sự (1993), cho rằng giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng tồn tại một số khác biệt, mà điểm khác biệt cơ bản là vấn đề “nhân quả”. Còn Zeithalm và Bitner (2000) thì cho 1 rằng sự hài lòng của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, giá cả, yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân.
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ (Parasuraman và các cộng sự 1988). Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự thoả mãn (Cronin và Taylor, 1992; Spreng và Taylor, 1996). Lý do là chất lượng dịch vụ liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, còn sự thoả mãn chỉ đánh giá được sau khi đã sử dụng dịch vụ. Sự thỏa mãn khách hàng là một khái niệm tổng quát, thể hiện sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ.
Trong khi đó chất lượng dịch vụ chỉ tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ (Zeithaml & Bitner, 2000).