phần mở đầu, Công ty Điện lực Bình Định là doanh nghiệp kinh doanh bán điện trên địa bàn Bình Định, sản phẩm điện cung cấp cho các hộ tại Bình Định được mua từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Sản phẩm điện được qui định đảm bảo chất lượng về điện áp và tần số theo Luật Điện Lực và Nghị định 105/NĐ-CP. Công ty thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp các dịch vụ liên quan đến sản phẩm điện bao gồm: dịch vụlắp đặt điện kế, ghi điện hàng tháng, phát hành hóa đơn, thu tiền điện, sửa chữa điện, kiểm tra điện, giải đáp các thắc mắc về giá điện, hóa đơn tiền điện… Với đặc điểm hiện nay thì Công ty mang đặc điểm chính của một công ty cung cấp dịch vụ cho khách hàng sử dụng điện. Do đó, cần tìm hiểu rõ thêm một số khái niệm về dịch vụ của các nhà nghiên cứu trong luận văn này.
Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng;… Như vậy, dịch vụ là kết quả của một quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào thành đầu ra cần thiết cho khách hàng. Quá trình đó bao gồm các hoạt động phía sau và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng theo cách mà khách hàng mong muốn. Những đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có những đặc điểm riêng hay tính chất giúp chúng ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác, đồng thời đòi hỏi nhà quản trị phải có những giải pháp thích hợp trong quản trị quá trình cung ứng dịch vụ.
Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận dịch vụ có bốn đặc điểm cơ bản, đó là: Tính vô hình (intangibility). Tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở chỗ dịch vụ “là những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào chân bạn”. Quá trình sản xuất hàng hóa tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hoá học. nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hóa.
Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy hoặc nắm giữ được. Chính vì vậy, không thể đánh giá được bản thân dịch vụ trước khi mua. Doanh nghiệp dịch vụ cũng gặp khó khăn trong việc xác định tiêu chuẩn dịch vụ, trưng bày và truyền thông về dịch vụ. Tính không thể tách rời (không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng: inseparability).
Đặc điểm này muốn nói tới việc khó khăn trong phân biệt giữa việc tạo thành một dịch vụ và sử dụng dịch vụ. Một dịch vụ không thể tách thành hai giai đoạn: giai đoạn tạo thành và giai đoạn sử dụng nó. Sự tạo thành và sử dụng của hầu hết các dịch vụ xảy ra đồng thời với nhau. Khác với hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Tính không đồng nhất (heterogeneity) hay không thể tiêu chuẩn hóa (non-standardization). Một dịch vụ không phải là một vật thể để chúng ta có thể giữ trong tay hay kiểm tra, chúng ta cũng không thể sờ mó, nếm thử hay mặc thử một dịch vụ, cũng khó để chúng ta có thể tưởng tượng ra tác động của một dịch vụ. Sự khác nhau của các mức độ thực hiện dịch vụ, nghĩa là dịch vụ có thể được xếp hạng từ rất kém cho đến rất hoàn hảo. Những vấn đề thiết yếu và chất lượng của một dịch vụ có thể thay đổi tùy theo người phục Luan van 6 vụ, sự cảm nhận của khách hàng và thời gian phục vụ.
Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Tính không tồn tại lâu dài (perishability), hay là không thể tồn kho (exclusion from the inventory). Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất hàng hóa tách khỏi lưu thông và tiêu dùng. Do đó hàng hóa có thể được lưu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo nhu cầu của thị trường.
Nhưng do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu giữ trong kho sau đó mới tiêu dùng. Những vấn đề cần quan tâm trong quá trình cung cấp dịch vụ Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của dịch vụ, nhà quản trị cần phải quan tâm đến một số vấn đề trong thiết kế và kiểm soát quá trình cung cấp dịch vụ, đó là: - Nhân tố con người và đặc điểm ứng xử (Human Factors and Behavioral Characteristics): khách hàng và người cung ứng là một bộ phận của quá trình sản xuất dịch vụ. Đặc tính, thái độ, cách ứng xử… của họ sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. - Tính minh bạch (Transparency Characteristics): Do đặc tính vô hình làm cho khách hàng khó có thể nhận biết được dịch vụ được cung cấp có đúng với tiêu chuẩn do người cung ứng đề ra hay không, sự nghi ngờ sẽ xuất hiện.
Ngoài ra, dịch vụ có thể biến đổi rất lớn về chất lượng tùy thuộc ai là người cung cấp, khi nào và ở đâu chúng được cung cấp (sự đồng đều, độ tin cậy của dịch vụ cung cấp cũng là một tiêu chuẩn chất lượng). - Tính kịp thời (sự đúng lúc, phù hợp về thời gian) (Timeliness Characteristics): Do không thể dự trữ được như sản phẩm vật chất, hệ thống cung ứng dịch vụ luôn ở thế bị động trước sự gia tăng đột xuất của nhu cầu. Khi phát sinh mâu thuẫn giữa cung và cầu (tổ chức không đủ khả năng đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng) thì chất lượng dịch vụ được coi là giảm sút. Luan van 7 - Tính tiện nghi (Facility-Related Characteristics): Đối với sản phẩm hữu hình, cái mà người tiêu dùng quan tâm chính là sản phẩm đó, họ không biết và cũng ít quan tâm đến điều kiện vật chất để sản xuất ra sản phẩm đó.
Ngược lại trong dịch vụ, sản xuất đồng thời với tiêu dùng, điều kiện vật chất liên quan đến quá trình cung ứng sẽ được khách hàng quan tâm nhiều hơn. Sự hài lòng của khách hàng bị ảnh bởi các yếu tố này. Chất lượng dịch vụ a. Chất lượng dịch vụ Chất lượng hàng hóa là hữu hình và có thể đo lường bởi các tiêu chí khách quan như: tính năng, đặc tính và độ bền.
Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ là vô hình nhưng lại rất quan trọng trong quá trình xây dựng thương hiệu, thực hiện các chiến lược marketing của các doanh nghiệp. Đây là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa trên các khía cạnh và mức độ khác nhau về chất lượng của dịch vụ được cung cấp. Theo Zeithaml (1987), chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng (là những người được cung cấp dịch vụ) về mức độ tuyệt vời hay hoàn hảo nói chung của một thực thể; nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ mà khách hàng nhận được.
Trong khi đó, Lewis và Boom cho rằng chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến cho khách hàng có tương xứng hay không với sự mong đợi một chất lượng tốt của các khách hàng. Việc xây dựng thành công chất lượng dịch vụ nghĩa là sự mong đợi của các khách hàng đã được đáp ứng một cách đồng nhất. Parasurman, Zeithaml và Berry thì định nghĩa chất lượng dịch vụ được xem như là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của các khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Theo TCVN và ISO 9000, chất lượng dịch vụ là mức phù hợp của sản phẩm dịch vụ so với các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua.
Vì Luan van 8 vậy, đo lường chất lượng dịch vụ thường dựa trên mối quan hệ giữa những mong đợi và cảm nhận thực tế của khách hàng về dịch vụ. Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ được đo lường bởi nhiều yếu tố và việc nhận định chính xác các yếu tố này phụ thuộc vào tính chất của dịch vụ và môi trường nghiên cứu. Nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này nhưng được biết đến nhiều nhất là các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ của Parasuraman. Năm 1985, Parasuraman đã đưa ra 10 nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, đó là: (1) Khả năng tiếp cận, (2) Chất lượng thông tin liên lạc, (3) Năng lực chuyên môn, (4) Phong cách phục vụ, (5) Tôn trọng khách hàng, (6) Đáng tin cậy, (7) Hiệu quả phục vụ, (8) Tính an toàn, (9) Tính hữu hình, (10) Am hiểu khách hàng.
Đến những năm 1988, Parasuraman khái quát 10 nhân tố trên thành 5 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, gồm: (1) Sự tin cậy, (2) Hiệu quả phục vụ, (3) Sự hữu hình, (4) Sự đảm bảo, (5) Sự cảm thông. Trên cơ sở kế thừa học thuyết của Parasurman và những nghiên cứu về chất lượng dịch vụ của riêng mình, năm 1990, Johnston và Silvestro đã đưa ra kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, bao gồm: (1) Sự ân cần, (2) Sự chăm sóc, (3) Sự cam kết, (4) Sự hữu ích, (5) Sự hoàn hảo. Đến năm 1990, trong các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ, Gronroos đã đưa ra 6 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, đó là: (1) Tính chuyên nghiệp, (2) Phong cách phục vụ ân cần, (3) Tính thuận tiện, (4) Sự tin cậy, (5) Sự tín nhiệm và (6) Khả năng giải quyết khiếu kiện. Đến năm 2001, Sureshchandar đưa ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, bao gồm: (1) Yếu tố dịch vụ cốt lõi, (2) Yếu tố con người, (3) Yếu tố kỹ thuật, (4) Yếu tố hữu hình, (5) Yếu tố cộng đồng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Sự hài lòng của khách hàng a.