phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ SỰ HÀI LÕNG Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chƣơng 3. KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chƣơng 4. KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG VÀ SỰ HÀI LÕNG Chƣơng này giới thiệu khái quát nội dung lý thuyết nghiên cứu phục vụ cho việc đo lƣờng sự hài lòng của khách hành sử dụng DVHCC, bao gồm các phần sau: Giới thiệu về khái niệm DVHCC, chất lƣợng dịch vụ, khung lý thuyết đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng và khung lý thuyết ứng dụng tiêu chuẩn ISO vào DVHCC, sau cùng là xây dựng mô hình lý thuyết đề nghị gồm các thành phần của chất lƣợng DVHCC có ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hành.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về dịch vụ Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Rất nhiều nghiên cứu về đặc điểm của dịch vụ đã mô tả bốn đặc tính của dịch vụ nhƣ: vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và dễ hỏng [16], chính điều này tạo nên sự riêng khác của dịch vụ so với các sản phẩm hữu hính khác. Trong đó, các đặc tính của dịch vụ đƣợc hiểu nhƣ sau: Tính vô hình: đây là đặc điểm cơ bản, khác biệt nhất của dịch vụ so với các sản phẩm hữu hình khác.
Dịch vụ không tồn tại bất kỳ một dạng vật chất nào, điều này dẫn đến việc khó khăn trong hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ. Dịch vụ thƣờng không thể nhìn thấy, nếm, ngửi, nghe, cảm nhận trƣớc khi dịch vụ đƣợc cung ứng, hay có thể hiểu dịch vụ là một quá trình cung ứng hơn là một vật thể, và chỉ đƣợc cảm nhận chứ không phải đƣợc tiêu dùng. Tính không đồng nhất: dịch vụ không tiêu chuẩn hóa nghĩa là với các nhà cung ứng khác nhau, địa điểm thực hiện hay khách hàng khách nhau mà dịch vụ cung ứng cũng không giống nhau. Hơn nữa khách hàng tiêu dùng là ngƣời quyết định chất lƣợng dịch vụ dựa vào những cảm nhận của họ trong những thời gian khác nhau, sự cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác nhau có sự cảm nhận khác nhau.
Nhƣ vậy, cung cấp dịch thƣờng mang tính cá nhân, khó tiêu chuẩn hóa nhƣ sản phẩm hữu hình. 6 Tính không thể tách rời: sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Quá trình cung ứng diễn ra cùng luc với quá trình tiêu thụ và ngƣời tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ của mình. Tính dễ hỏng: Dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ và không thế di chuyển từ khu vực này tới khu vực khác.
Do vậy việc tiêu dùng dịch vụ bị hạn chế bởi thời gian hay dịch vụ sẽ không tồn tại nếu không đƣợc “tiêu thụ” vào một thời điểm xác định nào đó. Ngoài đặc tính trên, dịch vụ còn đặc trƣng bởi tính không hoàn trả, nghĩa là nếu khách hàng không hài lòng với dịch vụ thì không thể hoàn lại dịch vụ. Chất lượng dịch vụ Theo Feigenbaum “Chất lƣợng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, đƣợc đo lƣờng dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể đƣợc hoặc không đƣợc nêu ra, đƣợc ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trƣờng cạnh tranh”. Theo Wismiewski & Donnelly (2001) [22] định nghĩa về chất lƣợng dịch có thể hiểu bằng nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào đối tƣợng nghiên cứu, nhƣng nhìn chung chất lƣợng dịch vụ thể hiện mức độ đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Parasuraman (1985), “chất lƣợng dịch vụ đƣợc xác định bởi sự khác biệt giữa sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ và đánh giá của họ về dịch vụ mà học nhận đƣợc”. Hay có quan điểm cho rằng, chất lƣợng dịch vụ đƣợc thể hiện trên 2 nội dung: quá trình cung ứng và kết quả dịch vụ [24] Chất lƣợng dịch vụ là nhân tố vô cùng quan trọng quyết định đến sự hài lòng của khách hàng, từ đó mà tạo lòng tin, sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Nhƣ vậy, tập trung duy trì và nâng cao chất lƣợng dịch vụ đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển, cũng tạo ra đƣợc lợi thế lớn trong cạnh tranh cho doanh nghiệp. Theo quan điểm của tác giả, chất lƣợng DVHCC là khả năng đáp ứng đối với sự mong đợi của khách hàng, hay nói cách khác đó chính là toàn bộ giá trị, lợi ích tăng thêm mà khách hàng đƣợc hƣởng.
Chất lƣợng dịch vụ này đƣợc đánh giá dựa trên việc thực thi pháp luật đúng quy định và trách nhiệm, thái độ phục vụ của công 7 chức, đảo bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự an ninh và phát triển xã hội. Sự hài lòng của khách hàng Theo Kotler và Keller (2006), sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một ngƣời bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của ngƣời đó. Dịch vụ hành chính công và sự hài lòng của ngƣời dân 1. Bản chất và đặc trưng của dịch vụ hành chính công DVHCC là loại hình DVC do cơ quan hành chính NN cung cấp, phục vụ yêu cầu cụ thể của công dân và tổ chức dựa trên quy định của pháp luật.
Các công việc do cơ quan hành chính NN thực hiện nằm trong phạm trù DVC, thể hiện mối quan hệ giữa NN và công dân, trong mối quan hệ này công dân thực hiện dịch vụ này không có quyền lựa chọn mà phải nhận những dịch vụ bắt buộc do NN quy định. Sản phẩm của dịch vụ dƣới dạng phổ biến là các loại văn bản mà ngƣời dân có nhu cầu đƣợc đáp ứng [3]. DVHCC do các cơ quan hành chính NN thực hiện thông qua 2 chức năng cơ bản, đó là chức năng quản lý NN đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và chức năng cung ứng DVC cho tổ chức và công dân. Nói cách khác, “DVHCC là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính NN thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý NN” [3].
Tuy nhiên một số nƣớc không dùng khái niệm DVHCC mà chỉ sử dụng khái niệm “DVC” cho tất cả các loại dịch vụ, tuy nhiên các nƣớc này mặc nhiên thừa nhận các DVC do cơ quan hành chính NN cung ứng cho công dân và tổ chức. DVHCC có đặc trƣng riêng để phân định nó với loại DVC công khác [3]: Thứ nhất, Đối tƣợng cung ứng duy nhất DVHCC là cơ quan hành chính NN có thẩm quyền hoặc các tổ chức, doanh nghiệp đƣợc ủy quyền. Hoạt động cung ứng DVHCC đƣợc thực hiện theo những quy định pháp lý bắt buộc; NN sử dụng quyền lực của mình để khuyến khích và bắt buộc các tổ chức, công dân sử dụng các dịch vụ để đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của mình trong mọi mặt của đời sống xã hội mà không tuân theo quy luật cung cầu. Sản phẩm của dịch vụ này 8 chính là các loại giấy tờ có tính pháp lý, nhƣ: giấy đăng ký kinh doanh, giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, … Thứ hai, DVHCC là loại hình gắn liền với chức năng quản lý và phục vụ có hiệu quả hoạt động quản lý của NN.
Thông qua các DCHCC, cơ quan NN có thẩm quyền thực hiện các chức năng quản lý NN trong từng lĩnh vực trên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Thứ ba, DVHCC là những hoạt động liên quan đến mức độ, nhu cầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã hội của một quốc gia. Vì vậy mà DVHCC không có mục tiêu lợi nhuận. Cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chỉ thu phí, lệ phí để nộp vào ngân sách NN mà không trực tiếp hƣởng lợi từ nguồn thu này.
Thứ tư, Công bằng, bình đẳng trong việc cung ứng, sử dụng DVHCC: Cơ quan NN có thẩm quyền có trách nhiệm và nghĩa vụ cung ứng các DVHCC trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng; mọi tổ chức, công dân đều có quyền, nghĩa vụ tiếp nhận, sử dụng dịch vụ nhƣ nhau. Từ những đặc trƣng cơ bản nêu trên, chúng ta dễ dàng nhận diện các loại hình cơ bản của DVHCC nhƣ sau: Thứ nhất, hoạt động cấp các loại giấy phép nhƣ giấy phép xây dựng, giấy phép quy hoạch, giấy phép lao động, giấy chứng nhận đầu tƣ, giấy phép xuất nhập cảnh, giấy đăng ký kinh doanh và giấy chứng chỉ hành nghề… Thứ hai, hoạt động cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực nhƣ xác nhận đủ điều kiện hành nghề; cấp giấy khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn; chứng nhận bản sao, chữ ký; công chứng,. Thứ ba, hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của NN. Thứ tư, hoạt động giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành chính.
Sản phẩm của các loại hình dịch vụ hành chính nêu trên phát sinh nhiều loại chứng từ giấy tờ hành chính; nó phản ánh kết quả cụ thể của các DVHCC để dễ dàng quản lý và giải quyết TTHC liên quan, các DVHCC đƣợc phân loại nhƣ trên. Trên cơ sở phân tích, so sánh DVHCC với hoạt động quản lý NN và với các loại DVC trong các lĩnh vực phục vụ lợi ích công cộng, có thể thấy DVHCC là những hoạt động giải quyết những công việc cụ thể liên quan đến các quyền và 9 nghĩa vụ cơ bản của c ác tổ chức và công dân đƣợc thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính – pháp lý của NN. Chất lượng dịch vụ hành chính công Đối với các cơ quan hành chính NN, mục đích hoạt động chính là cung cấp, hỗ trợ ngƣời dân hơn là mục đích lợi nhuận; do vậy, thay vì thƣớc đo lợi nhuận tạo ra, chất lƣợng dịch vụ là thƣớc đo căn bản quyết định đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính NN nói chung.