Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về sự hài lòng Theo Oliver (1985), sự hài lòng là phản ứng của khách hàng đối với việc được đáp ứng những mong muốn. Định nghĩa này có hàm ý rằng sự thỏa mãn chính là sự hài lòng của khách hàng trong việc tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ, do nó đáp ứng những mong muốn của họ, bao gồm cả mức độ đáp ứng trên mức mong muốn và dưới mức mong muốn. Theo Kotler (2012), sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng của người đó.
Kỳ vọng ở đây được xem là ước mong hay mong đợi của con người. Nó bắt nguồn từ nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin bên ngoài như quảng cáo, thông tin truyền miệng của bạn bè, gia đình. Theo Bachelet (1995) thì sự hài lòng của khách hàng được giải thích như là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đối với một sản phẩm hay dịch vụ dựa trên những kinh nghiệm cá nhân. Theo Spreng (1996), sự hài lòng của khách hàng được xem là nền tảng trong khái niệm của marketing về việc thỏa mãn nhu cầu và mong ước của khách hàng.
Có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi (Parasuraman và cộng sự, 1988). Theo Zeithalm và Bitner (2000) cho rằng, sự hài lòng của khách hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, giá cả, yếu tố tình huống, yếu tố cá nhân. Theo Parasuraman và cộng sự (1991), có 5 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ: Độ tin cậy, Mức độ đáp ứng, Sự đảm bảo, Sự cảm thông và Phương tiện hữu hình.
Như vậy, mức độ hài lòng là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng. Khách hàng có thể có cảm nhận một trong ba mức độ thỏa mãn sau: Nếu kết quả thực hiện kém hơn so với kỳ vọng thì khách hàng sẽ không hài lòng; nếu kết quả thực hiện tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng; nếu kết quả thực tế vượt quá sự mong đợi thì khách hàng rất hài lòng và thích thú. 4 Hiện tại, có nhiều định nghĩa về sự hài lòng của khách hàng, nhưng tựu chung lại đó là sự phản ứng của người tiêu dùng khi sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ đối với việc sản phẩm, dịch vụ đó có đáp ứng được kỳ vọng của họ hay không. Sự hài lòng của khách hàng tùy thuộc vào hiệu quả hay lợi ích của sản phẩm dịch vụ mang lại so với những gì mà họ đang kỳ vọng.
Khách hàng có thể có những cấp độ hài lòng khác nhau. Nếu hiệu quả sản phẩm dịch vụ mang lại thấp hơn so với kỳ vọng, khách hàng sẽ bị bất mãn. Nếu hiệu quả sản phẩm dịch vụ khớp với các kỳ vọng, khách hàng sẽ hài lòng. Nếu hiệu quả sản phẩm dịch vụ mang lại cao hơn cả kỳ vọng, khách hàng đạt hài lòng cao.
Những khách hàng hài lòng sẽ trung thành lâu hơn, mua hàng nhiều hơn, ít nhạy cảm về giá hơn và sẽ tuyên truyền tốt cho công ty.2 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là những hoạt động, những tiến trình và chất lượng được cung cấp hoặc hợp tác sản xuất bởi một thực thể hoặc một người cho thực thể hay người khác. Định nghĩa này đưa ra một khái niệm rộng hơn đối với dịch vụ đó là tất cả các hoạt động kinh tế mà kết quả của nó không phải là một sản phẩm vật lý hay là sự xây dựng, dịch vụ này được tiêu thụ ngay tại thời điểm nó được sản sinh ra và cung cấp những giá trị gia tăng dưới các hình thức như sự thuận tiện, vui chơi giải trí, đúng giờ giấc, tiện lợi, hoặc chăm sóc sức khỏe; những dạng này nhấn mạnh tính vô hình của người mua nó trong lần đầu tiên. Như vậy, dịch vụ là những hoạt động tạo ra lợi ích về thời gian, địa điểm, tâm trạng và giá trị tâm lý cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất (Kotler và Keller, 2006).3 Khái niệm chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là kết quả của sự so sánh của khách hàng, được tạo ra giữa những mong đợi của họ về dịch vụ đó và sự cảm nhận của họ khi sử dụng dịch vụ đó. Chất lượng dịch vụ là sự khác biệt giữa những mong đợi của khách hàng và những cảm nhận về dịch vụ hoặc sự thỏa mãn hay không thỏa mãn của khách hàng được hình thành bằng việc trải nghiệm của họ thông qua việc mua và sử dụng dịch vụ. 5 Parasuraman và cộng sự (1998) cho rằng “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách mong đợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi sử dụng qua sản phẩm dịch vụ đó”. Chất lượng dịch vụ là mức độ dự đoán trước về tính đồng nhất (đồng dạng), có thể tin được, tại mức chi phí thấp nhất và được thị trường chấp nhận.
Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về độ tin cậy, sự đáp ứng, năng lực phục vụ, sự cảm thông và phương tiện hữu hình.4 Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ Parasuraman, Zeithaml và Bery (1991) là những nhà nghiên cứu tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ. Các nghiên cứu của Parasuraman, Zeithaml và Bery (1991) đã chỉ ra rằng, có 5 nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ, đó là: Độ tin cậy (Reliability): Độ tin cậy là việc thực hiện dịch vụ đúng như đã hứa một cách đáng tin cậy và chính xác. Hiểu theo nghĩa rộng, thì độ tin cậy nghĩa là công ty thực hiện lời hứa của họ về cung cấp dịch vụ, giải quyết các vấn đề phát sinh và định giá. Đặc biệt là lời hứa về kết quả dịch vụ và thuộc tính cốt lõi dịch vụ.
Khả năng đáp ứng (Responsibility): Là sự sẵn sàng để giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ đúng lúc, nhanh chóng. Yếu tố này nhấn mạnh rằng sự quan tâm và kịp thời trong việc giải quyết với những yêu cầu của khách hàng, câu hỏi, những lời than phiền và những vướng mắc. Để đẩy mạnh yếu tố này vượt trội hơn, công ty phải nhìn nhận quá trình giao nhận dịch vụ và nắm bắt các yêu cầu theo quan điểm của khách hàng chứ không phải theo quan điểm của công ty. Những qui tắc cho sự nhanh chóng và kịp thời phản ánh cái nhìn của công ty về những yêu cầu trong các qui trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng một cách nhanh chóng và kịp thời.
Năng lực phục vụ, sự đảm bảo (Assurance): Là kiến thức và tác phong của nhân viên phục vụ, sự nhã nhặn cũng như khả năng tạo lòng tin và sự tín nhiệm của khách hàng. Là sự quan tâm và khả năng của công ty cũng như nhân viên nhằm tạo lòng tin và sự tin tưởng của khách hàng. Sự đồng cảm (Empathy): Là sự quan tâm, lưu ý và chăm sóc đến từng khách hàng. Bản chất của sự thông cảm mang tính truyền đạt thông qua dịch vụ, những nhu cầu của khách hàng luôn luôn được lắng nghe và thấu hiểu.
Khách hàng muốn công ty hiểu được họ và họ thật sự quan trọng đối với nhà cung cấp dịch vụ. Các công ty thường xây dựng cơ sở dữ liệu khách hàng. 6 Phương tiện hữu hình (Tangibles): Thể hiện qua cơ sở vật chất, trang thiết bị của công ty và hình thức bên ngoài của nhân viên. Phương tiện hữu hình là sự hiện diện vật chất hay những hình ảnh về dịch vụ mà khách hàng, đặc biệt là những khách hàng mới, sẽ dùng để đánh giá dịch vụ.
Các công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thường kết hợp phương tiện hữu hình với một số yếu tố khác để xây dựng hình ảnh cũng như chiến lược chất lượng dịch vụ cho công ty. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ ảnh hưởng của 5 nhân tố trên quyết định đến chất lượng dịch vụ là khác nhau đối với các nền văn hóa khác nhau.5 Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ Đánh giá chất lượng dịch vụ là vấn đề thu hút rất lớn sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như các doanh nghiệp. Kể từ những năm 1980, các nhà khoa học có những nghiên cứu cơ sở lý thuyết và đề xuất các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực chất lượng dịch vụ khác nhau. Dưới đây là một số mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ tiêu biểu của Gronroos (1984), Parasuraman và cộng sự (1985), Brogowicz và cộng sự (1990), Cronin và Taylor (1992) thường được nhiều tác giả trong và ngoài nước sử dụng.
Mô hình đánh giá chất lượng kỹ thuật/chức năng của Gronroos (1984) Theo Gronroos (1984), chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị mà khách hàng mong đợi trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ. Gronroos (1984) đưa ra ba tiêu chí: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh để đánh giá. Kỳ vọng CLDV Dịch vụ về dịch vụ cảm nhận nhận được Các hoạt động marketing truyền thống (quảng cáo, PR,…) và các yếu tố bên ngoài như tư Hình ảnh tưởng, truyền miệng Chất lượng kỹ thuật Chất lượng chức năng Nguồn: Gronroos (1984) Hình 2.1: Mô hình chất lượng kỹ thuật/chức năng của Gronroos (1984) Chất lượng kỹ thuật mô tả dịch vụ được cung cấp là gì và chất lượng mà khách hàng nhận được từ dịch vụ. Chất lượng chức năng mô tả dịch vụ được cung cấp thế 7 nào hay làm thế nào khách hàng nhận được kết quả chất lượng kỹ thuật.
Hình ảnh là yếu tố rất quan trọng, được xây dựng chủ yếu dựa trên chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng của dịch vụ, ngoài ra còn một số yếu tố khác (như truyền thông, truyền miệng, chính sách giá, PR).