Chương 1, nghiên cứu đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan để làm nền tảng cho nghiên cứu, bao gồm các khái niệm như: dịch vụ, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng và mối quan hệ giữa các khái niệm này. Từ đó, xây dựng mô hình cho việc nghiên cứu và đặt ra các giả thuyết nghiên cứu. Cơ sở lý luận về dịch vụ và chất lượng dịch vụ - Dịch vụ: Hiện có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ thường được sử dụng như: Theo Luật Giá (2012): Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật Theo Từ điển Kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc, 2006): “Dịch vụ là sản phẩm Luận văn thạc sĩ Kinh tế vô hình như dịch vụ bán lẻ, vận chuyển, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm v.v…, khác với hàng hóa là sản phẩm có hình dạng cụ thể.
Tuy không có một hình thức vật chất cụ thể, nhưng dịch vụ cũng đóng góp vào việc thỏa mãn nhu cầu của con người như các hàng hóa thông thường khác. Trong hệ thống hạch toán thu nhập quốc dân, dịch vụ là một thành tố quan trọng của tổng sản phẩm trong nước (GDP)”. Theo Philip Kotler, Kevin Keller (2013), dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cụ thể. - Các đặc trưng của dịch vụ: Các nhà nghiên cứu đã phân tích, đánh giá và đưa ra kết luận dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt và có những đặc trưng riêng mà hàng hóa vật chất hữu hình không có.
Các đặc trưng của dịch vụ bao gồm: - Tính vô hình: Dịch vụ là vô hình, không thể nhìn thấy hoặc cầm, nắm, đo, đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Do tính chất vô hình, dịch vụ không có mẫu và cũng không có dùng thử như sản phẩm vật chất. Khi mua sản phẩm dịch vụ, người mua không thể yêu cầu kiểm tra, thử nghiệm chất lượng 10 trước khi mua như đối với sản phẩm vật chất hữu hình. Chỉ bằng cách thông qua việc sử dụng dịch vụ (trải nghiệm dịch vụ), khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất.
Đặc điểm này của dịch vụ gây ra nhiều khó khăn cho việc quản lý hoạt động sản xuất và cung cấp dịch vụ. - Tính không thể tách rời: Quá trình cung cấp/sản xuất dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Hầu như rất khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn tách rời là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch vụ.
Vì vậy, hầu như không thể che giấu được các lỗi hoặc sai sót hoặc sửa chữa sai sót trong quá trình cung cấp dịch vụ. - Tính không lưu trữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp; không thể tồn kho, không thể cất trữ và không thể vận chuyển từ nơi này sang nơi khác. Do đó, không thể sản suất trước, lưu kho và bán dần cho người mua. - Tính không đồng nhất: Trong quá trình cung cấp dịch vụ, có nhiều yếu tố khó kiểm soát trước.
Các nhân viên cung cấp dịch vụ hầu như không thể tạo ra dịch vụ giống nhau trong những khoảng thời gian hoàn toàn khác nhau. Vì thế, gần như Luận văn thạc sĩ Kinh tế không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau tại mọi thời điểm, mọi địa điểm. - Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một sản phẩm hàng hóa hữu hình, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hóa mình đã mua, chủ sở hữu có thể tiếp tục chuyển quyền sở hữu cho người khác. Tuy nhiên, khi mua dịch vụ thì người mua chỉ được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một khoảng thời gian nhất định tùy theo từng dịch vụ.
Người mua chỉ được chuyển quyền sử dụng dịch vụ trong khoảng thời gian dịch vụ có hiệu lực. Với những đặc trưng nêu trên của dịch vụ hoàn toàn khác so với đặc điểm của các sản phẩm hữu hình khác. Do vậy, khách hàng cũng gặp khó khăn khi đánh giá chất lượng dịch vụ tại thời điểm trước, trong và sau khi sử dụng. Ngoài ra, do tính chất vô hình của dịch vụ, nên nhà cung cấp dịch vụ cũng gặp nhiều khó khăn để tìm hiểu về sự cảm nhận và sự đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ.
- Dịch vụ viễn thông: “Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng. Dịch vụ viễn thông cũng là một trong 11 các loại hình dịch vụ với đầy đủ các đặc trưng của dịch vụ gồm: Tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không tồn trữ được, tính không đồng nhất, tính không chuyển quyền sở hữu được. Chính vì thế, việc tìm hiểu về sự cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ viễn thông cũng là một trong các vấn đề khó khăn đối với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. - Chất lượng dịch vụ Theo TCVN ISO 9000:2015 do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố: “Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của tổ chức được xác định bằng khả năng thỏa mãn khách hàng và ảnh hưởng mong muốn và không mong muốn tới các bên quan tâm liên quan.
Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ không chỉ bao gồm chức năng và công dụng dự kiến mà còn bao gồm giá trị và lợi ích được cảm nhận đối với khách hàng” Lý thuyết về chất lượng dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ là một phạm trù rộng và có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng loại dịch vụ. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đề xuất nhiều mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ. Luận văn thạc sĩ Kinh tế Trong khi đo lường chất lượng sản phẩm hữu hình cụ thể và rõ ràng thì việc tìm hiểu và đo lường chất lượng dịch vụ được xem các vấn đề khó khăn và cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời đầy đủ và đang tiếp tục được nghiên cứu. Parasuraman và cộng sự (1985) đã đưa ra định nghĩa về chất lượng dịch vụ và được sử dụng rộng rãi đó là chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ.
Vậy, chất lượng dịch vụ được xem là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên sự cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Chất lượng dịch vụ là việc các nhà cung cấp dịch vụ đáp ứng mức độ nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng đối với dịch vụ đó. Vì thế, chất lượng dịch vụ chủ yếu do khách hàng xác định, mức độ hài lòng của khách hàng càng cao thì chất lượng dịch vụ càng tốt.
Chính vì chất lượng dịch vụ do khách hàng quyết định nên sẽ mang tính chất chủ quan, chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào mức độ nhu cầu và mong đợi của khách hàng, vì vậy mỗi khách hàng sẽ có những cảm nhận khác nhau, dẫn đến chất lượng cũng khác nhau. 12 - Chất lượng dịch vụ viễn thông Trong lĩnh vực viễn thông, theo điều 4 của Thông tư 05/VBHN-BTTTT của Bộ TTTT quy định về quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông, doanh nghiệp viễn thông phải: “Thực hiện việc công bố chất lượng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các dịch vụ viễn thông thuộc “Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng”, mức chất lượng công bố không được trái với mức quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia” và “Tự công bố chất lượng theo tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng đối với các dịch vụ viễn thông không thuộc “Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng” trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp viễn thông” - Chất lượng dịch vụ internet cáp quang VNPT Tập đoàn VNPT đã thực hiện công bố chất lượng dịch vụ internet cáp quang trên website www.vn qua bảng công bố số 3645/VNPT-CLG tuân theo QCVN 34:2014/BTTTT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng dịch vụ truy nhập internet băng rộng cố định mặt đất.