phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp đối với dịch vụ hành chính thuế Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị 8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu [1] TS Chu Thị Kim Loan (2014), “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng với chất lƣợng dịch vụ- Nghiên cứu tại Công ty Bảo hiểm BIDV Hải Dƣơng”, Kinh tế phát triển, 206, tr. Công ty Bảo hiểm BIDV Hải Dƣơng (BIC Hải Dƣơng) là một đơn vị cung cấp các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Trong nhiều năm qua, công ty đã đạt đƣợc những thành tích nhất định trong kinh doanh.
Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay ngày càng trở lên gay gắt khi có thêm sự tham gia của các công ty nƣớc ngoài. Do vậy, việc đánh giá mức độ hài lòng và xác định những yếu tố chủ yếu ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng là rất cần thiết để công ty có giải pháp tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của mình. Qua thực tiễn nghiên cứu tại BIC Hải Dƣơng, đề tài cho thấy mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới ở mức trung bình khá. Từng yếu tố tạo lên chất lƣợng dịch vụ cũng chƣa đƣợc khách hàng đánh giá cao.
Do đó, tác giả đã đƣa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm giúp cải thiện sự hài lòng của khách hàng, nâng cao hình ảnh và tính cạnh tranh của công ty. [2] Đàm Thị Hƣờng, Đỗ Thị Hòa Nhã, Phạm Bảo Dƣơng (2015), Sự Luan van 7 hài lòng của ngƣời nộp thuế đối với chất lƣợng phục vụ của Chi cục Thuế huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Tạp chí khoa học và phát triển, tập 13, 01, tr. Sử dụng dữ liệu thu đƣợc từ khảo sát 132 mẫu ngƣời nộp thuế và áp dụng phƣơng pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy đa biến, bài viết thảo luận, đánh giá sự hài lòng của ngƣời nộp thuế đối với chất lƣợng phục vụ của Chi cục thuế huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu cho thấy về cơ bản chất lƣợng phục vụ của Chi cục thuế Na Hang đã đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời nộp thuế và khoảng 79,3% ngƣời nộp thuế hài lòng với chất lƣợng đƣợc phục vụ.
Nghiên cứu cũng đã xác định có 7 nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ hài lòng của ngƣời nộp thuế bao gồm: sự tin cậy; cơ sở vật chất; sự cảm thông; tính dân chủ và sự công bằng; năng lực phục vụ; sự công khai, minh bạch; mức độ đáp ứng. Bài viết cũng đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lƣợng phục vụ của Chi cục thuế, từ đó nâng cao mức độ hài lòng của ngƣời nộp thuế. [3] Nguyễn Quang Thủy (2011), Nghiên cứu sự hài lòng của người dân trong việc sử dụng dịch vụ hành chính công tại thành phố Kom Tum, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. Trên cơ sở phân tích thực trạng cung cấp dịch vụ hành chính công trên địa bàn thành phố Kon Tum kết hợp với những kết luận đƣợc rút ra từ việc nghiên cứu sự hài lòng của ngƣời dân trong việc sử dụng dịch vụ hành chính công, đề tài đã đề ra những hàm ý mang tính giải pháp đối với các nhà quản lý của thành phố để góp phần nâng cao sự hài lòng của ngƣời dân trong việc sử dụng dịch vụ hành chính công trên địa bàn.
Hạn chế của đề tài: chƣa khái quát đƣợc toàn bộ tính chất của tổng thể nghiên cứu. [4] Trần Quốc Việt (2014), Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng sử dụng điện sinh hoạt tại công ty điện lực Bình Định, Luận văn thạc sĩ Quản trị Luan van 8 kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. Dựa trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về sự hài lòng khách hàng và đƣa ra các mô hình nghiên cứu lý thuyết, đề tài đã xây dựng mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng sử dụng điện sinh hoạt tại Công ty Điện lực Bình Định. Qua nghiên cứu định tính và định lƣợng, thực hiện các phƣơng pháp kiểm định, đánh giá mô hình, đề tài đƣa ra đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng, mức độ ảnh hƣởng và giải pháp cải tiến, nâng cao mức độ thỏa mãn khách hàng.
Từ đó giúp công ty có những giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ, hƣớng đến mục tiêu phục vụ khách hàng tốt nhất. Đánh giá mức độ hài lòng của công dân và tổ chức nhằm xác định mức độ hƣởng thụ lợi ích từ dịch vụ hành chính công. Đối với các cơ quan nhà nƣớc, điều tra là cơ sở để thu thập ý kiến cộng đồng về dịch vụ; là nội dung tham khảo để theo dõi, đánh giá và đề ra biện pháp hành động trong công tác cải cách hành chính. Đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, công dân là nội dung quan trọng trong hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công, tác động trực tiếp đến cơ quan, lĩnh vực cần trƣng cầu và dƣ luận xã hội.
Vì vậy, việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo tính khoa học, khách quan, dân chủ, minh bạch; phản ánh đúng khả năng và thực tế hoạt động, làm rõ ƣu điểm và hạn chế của hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công. Từ đó, đƣa ra mô hình đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ hành chính trong điều kiện hiện nay phải bao gồm các mặt sau: Thái độ, trách nhiệm, tác phong của cán bộ công chức; cơ sở vật chất và điều kiện hỗ trợ hoạt động cung ứng dịch vụ; các nội dung về công khai công vụ; thủ tục hành chính và Luan van 9 quy trình xử lý; thời gian giải quyết; lệ phí; cơ chế giám sát, góp ý; mức độ hài lòng chung. Từ đó, mô hình đánh giá hài lòng về dịch vụ hành chính nhƣ Hình 1. [6] Trịnh Thị Minh Hải (2011), Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ công chứng tại Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng.
Luận văn đƣa ra các nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố và xây dựng thang đo lƣợng hóa các nhân tố cấu thành sự hài lòng của khách hàng công chứng và xây dựng mô hình hài lòng khách hàng công chứng tại Thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố và đƣa ra các giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao mức độ hài lòng của ngƣời dân. Luan van 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH THUẾ 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ 1.
Dịch vụ và một số đặc điểm của dịch vụ a. Khái niệm dịch vụ Theo Zeithaml & Britner (2000) dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Kotler & Armstrong (2004) dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. … Tổng hợp từ các khái niệm trên, cho thấy, dịch vụ đƣợc xem là (1) một hoặc một số hoạt động; (2) cần đƣợc thực hiện; (3) thông qua một quá trình; (4) có sự tƣơng tác giữa ngƣời cung ứng và khách hàng để sản xuất và tiêu dùng; (5) nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng; (6) mang lại cho khách hàng một giá trị nào đó.
Theo Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO), dịch vụ là “kết quả của một quá trình”, “ là kết quả của ít nhất một hoạt động cần đƣợc tiến hành tại nơi tƣơng giao giữa ngƣời cung ứng và khách hàng và thƣờng không hữu hình”. Trong đó, “quá trình là tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tƣơng tác để biến đổi đầu vào thành đầu ra”. Nhƣ vậy, dịch vụ là kết quả của một quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào thành đầu ra cần thiết cho khách hàng. Quá trình đó bao gồm các hoạt động phía sau (hậu đài hoặc bên trong) và các hoạt động phía trƣớc, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tƣơng tác với nhau nhằm thỏa mãn nhu Luan van 11 cầu của khách hàng theo cách mà khách hàng mong muốn và suy cho cùng đó cũng là sự tạo ra giá trị cho khách hàng.
Những đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có những đặc điểm riêng hay tính chất giúp ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác, đồng thời đòi hỏi nhà quản trị phải có những giải pháp thích hợp trong quản trị quá trình cung ứng dịch vụ. Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận dịch vụ có bốn đặc điểm cơ bản, đó là: - Tính vô hình (intangibility): Quá trình sản xuất hàng hóa tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hóa học… nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hóa. Không giống nhƣ những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy hoặc nắm giữ đƣợc. Chính vì vậy không thể đánh giá đƣợc bản thân dịch vụ trƣớc khi mua.
Doanh nghiệp dịch vụ cũng gặp khó khăn trong việc xác định tiêu chuẩn dịch vụ, trƣng bày và truyền thông về dịch vụ. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn và củng cố niềm tin cho khách hàng, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ luôn cố gắng tăng tính hữu hình của sản phẩm thông qua những hình ảnh, biểu tƣợng quảng cáo, nội dung quảng cáo cũng không còn bó hẹp trong việc mô tả dịch vụ nữa mà còn phải bao gồm cả việc truyền thông về lợi ích mà dịch vụ sẽ mang lại. Với lý do là vô hình nên doanh nghiệp cảm thấy khó khăn trong việc nhận thức nhƣ thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lƣợng dịch vụ (Robinson, 1999). - Tính không thể tách rời (không thể tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng – inseparability): Đặc điểm này muốn nói tới việc khó khăn trong phân biệt giữa việc tạo thành một dịch vụ và sử dụng dịch vụ.
Một dịch vụ không thể tách thành hai giai đoạn: giai đoạn tạo thành và giai đoạn sử dụng nó. Sự tạo thành và sử dụng của hầu hết các dịch vụ xảy ra đồng thời với nhau.