CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này trình bày tổng quan về chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, mối quan hệ giữa chúng cũng như các mô hình lý thuyết đo lường mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Các vấn đề cơ bản về dịch vụ Hải quan, đăng ký tờ khai Hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu tại Cục HQTPHCM được tác giả giới thiệu ở phần hai của chương. Cuối cùng, qua nghiên cứu dịch vụ đăng ký tờ khai hàng nhập khẩu ở một số nước, tác giả rút ra một số kinh nghiệm có thể xem xét áp dụng trong điều kiện của Cục Hải quan TP.HCM nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tại bước này.1 Tổng quan về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: 1.1 Khái niệm: Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ: (service quality) Tra cứu tại http://www.com, quality có nghĩa là tiêu chuẩn của một cái gì đó khi so sánh với cái khác tương tự từ đó biết được nó tốt hay xấu (tệ) hơn.
Trong marketing, chất lượng dịch vụ (service quality) có nhiều cách định nghĩa khác nhau: - Chất lượng dịch vụ là quan điểm được hình thành từ việc đánh giá một cách tổng thể và lâu dài về dịch vụ1. - Chất lượng hàng hóa (hay dịch vụ) là toàn bộ những tính chất và đặc điểm của hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.Douglas Hoffman, John E.G Bateson (2006), Service Marketing: concept, strategies, and cases, Thomson South-Western, 333 123doc -2- - Theo định nghĩa tại Dự thảo của Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam3 thì chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Ở đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán. Sự hài lòng của khách hàng (customer satisfaction) : Theo từ điển Oxford Advance Learner’s (tại trang web http://www.com) thì satisfaction có nghĩa là cảm giác hài lòng có được khi bạn đạt được điều gì đó hoặc khi điều bạn mong muốn xảy ra.
Trong marketing, khái niệm sự hài lòng của khách hàng (customer satisfaction) được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa như sau: - Banchelet (1995) định nghĩa sự thỏa mãn khách hàng là phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại kinh nghiệm của họ về sản phẩm, dịch vụ. - Là việc so sánh giữa mong đợi của khách hàng với cảm nhận về dịch vụ. Nếu cảm nhận tương xứng hoặc vượt những gì khách hàng mong đợi ở dịch vụ, khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng. Ngược lại, nếu cảm nhận thấp hơn mong đợi của khách hàng về dịch vụ thì khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng4.
Như vậy, có thể thấy khi nói đến chất lượng là nói đến những đặc tính của sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng còn nói đến sự hài lòng là nói đến những phản ứng mang tính cảm xúc khi tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. Trong luận văn tác giả chọn cách định nghĩa như sau: - Chất lượng dịch vụ là toàn bộ những tính năng, đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ làm cho nó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu được nói ra hay được hiểu ngầm (Phillip Kotler (2006), Quản trị marketing, Nhà xuất bản thống kê). 2 Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (2010), Tổ chức Nhà nước, Số 3, 18 3 Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, http://www.Douglas Hoffman, John E.G Bateson (2006), Service Marketing: concept, strategies, and cases, Thomson South-Western, 304. 123doc -3- - Sự hài lòng của khách hàng: Là trạng thái cảm giác của khách hàng bắt nguồn từ việc so sánh cảm nhận (có được khi tiêu dùng dịch vụ) với kỳ vọng về dịch vụ (Phillip Kotler (2006), Quản trị marketing, Nhà xuất bản thống kê).
Đây là định nghĩa mang tính chất khái quát cao và được nhiều nhà nghiên cứu công nhận. Từ định nghĩa trên, ta thấy về cơ bản muốn làm tăng sự hài lòng của khách hàng người ta có thể tìm cách quản trị kỳ vọng của khách hàng ở mức độ phù hợp, đồng thời nỗ lực cải thiện dịch vụ nhằm làm tăng cảm nhận của khách hàng về dịch vụ. Kỳ vọng về dịch vụ của khách hàng rõ ràng có vai trò trung tâm trong việc ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách về dịch vụ. Vậy, những yếu tố nào góp phần tạo nên kỳ vọng của khách hàng? Theo nghiên cứu của Ban cải cách dịch vụ công của Anh, kỳ vọng về dịch vụ của khách hàng được hình thành bởi các yếu tố: nhu cầu cá nhân (personal needs), sự trải nghiệm trong quá khứ về dịch vụ (previous experience), lời nói truyền miệng (word-of-mouth), những hứa hẹn về dịch vụ thể hiện ra bên ngoài (explicit service promise) và những hứa hẹn về dịch vụ ẩn chứa bên trong (implicit service promise)5.
Trải nghiệm trong quá khứ Nhu cầu cá nhân Lời truyền miệng Kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ Hứa hẹn ẩn chứa Hứa hẹn về dịch vụ về dịch vụ thể hiện ra bên ngoài Hình 1.1 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến kỳ vọng dịch vụ của khách hàng 5 Prime Minister’s office of public services reform (2002), Measuring & Understanding customer satisfaction, 6 123doc -4- Trong đó: - Nhu cầu cá nhân được hiểu là những nhu cầu mà khách hàng trông đợi dịch vụ sẽ đáp ứng. Nhu cầu cá nhân sẽ khác nhau đối với các dịch vụ khác nhau và giữa các cá nhân cũng khác nhau. Rất khó có thể nắm bắt, hiểu hết tất cả các nhu cầu của cá nhân đối với dịch vụ. - Trải nghiệm, kinh nghiệm trong quá khứ về dịch vụ sẽ ảnh hưởng tới kỳ vọng trong tương lai của khách hàng về dịch vụ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy khách hàng càng có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng dịch vụ thì họ không đặt kỳ vọng quá cao vào dịch vụ, do đó có xu hướng hài lòng về dịch vụ càng cao. - Lời truyền miệng: thông qua trao đổi với người thân, bạn bè, đồng nghiệp những thông tin về dịch vụ lan truyền rất nhanh từ người này sang người khác, từ đó sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành kỳ vọng dịch vụ của khách hàng. - Hứa hẹn về dịch vụ thể hiện ra bên ngoài: Các phát biểu, tuyên ngôn của cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ hay những mối quan hệ với công chúng ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành kỳ vọng của khách hàng. - Hứa hẹn ẩn chứa bên trong về dịch vụ: Bao gồm những yếu tố phương tiện hữu hình như cơ sở vật chất, vẻ bề ngoài của cơ quan cung cấp dịch vụ…có thể dẫn đến kỳ vọng về dịch vụ chất lượng cao.
Hiểu rõ kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ là điều vô cùng quan trọng. Kỳ vọng của khách hàng càng cao thì càng khó có thể cung cấp dịch vụ làm hài lòng khách hàng. Đối với các nhà marketing đây là vấn đề cần nghiên cứu kỹ để có cách quản trị tốt kỳ vọng về dịch vụ của khách hàng làm sao vừa thể hiện được những ưu việt của dịch vụ đồng thời để khách hàng hiểu đúng, hiểu rõ về dịch vụ.2 Phân biệt sự hài lòng và chất lượng dịch vụ: Trong khi sự hài lòng của khách hàng là trạng thái cảm giác khi tiêu dùng dịch vụ và chỉ xuất hiện sau khi tiêu dùng dịch vụ thì chất lượng dịch vụ lại liên quan đến 123doc -5- việc cung cấp dịch vụ và tập trung vào những thành phần cụ thể của dịch vụ (Zeithaml and Bitner, 2000). Sự hài lòng của khách hàng có tính chất ngắn hạn, cụ thể trong một lần sử dụng dịch vụ còn chất lượng dịch vụ lại có tính chất dài hạn, tổng quát hơn về dịch vụ (Zeithaml and Bitner, 2000).
Sự hài lòng là khái niệm một thành phần và mang tính chủ quan còn chất lượng dịch vụ lại là khái niệm đa thành phần mang tính khách quan. Quan hệ chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng: Theo các nhà nghiên cứu Philip Kotler (Quản trị marketing, Nhà xuất bản thống kê (2006), Zeithaml and Bitner (Service marketing, McGraw –Hill (2000)), Cronin and Taylor (1992), thì giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có mối quan hệ nhân quả. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ. Các nghiên cứu trước đây cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng6.
Chất lượng dịch vụ càng cao thì sự hài lòng của khách hàng càng cao và ngược lại.3 Một số mô hình đo lường sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ: 1.1 Mô hình SERVQUAL (Parasurraman, 1985): Năm 1985, Parrasuraman & ctg đã xây dựng mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ: 6 Nguyễn Thị Mai Trang (2006), Tạp chí phát triển KH&CN, Tập 9, số 10, trang 60 123doc -6- Giao tieáp Nhu caàu caù Kinh baèng mieäng nhaân nghieäm ñaõ qua Dòch vuï kyø voïng Khoaûng caùch 5 Dòch vuï Khaùch haøng nhaän thöùc Nhaø marketing khoaûng caùch 4 Dòch vuï Thoâng tin ñoái chuyeån giao ngoaïi vôùi khaùch haøng Khoaûng caùch 3 Chuyeån ñoåi caûm nhaän cuûa coâng ty Khoaûng caùch 1 thaønh tieâu chí chaát Khoaûng caùch 2 löôïng Nhaän thöùc cuûa ban laõnh ñaïo veà kyø voïng cuûa khaùch haøng Hình 1.2 – Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ (Nguồn Phillip Kotler (2006), Quản trị Marketing, Nhà xuất bản Thống Kê) Theo đó, tác giả cho rằng khoảng cách chất lượng dịch vụ chính là khoảng cách giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ kỳ vọng (Gap5) và khoảng cách này tùy thuộc vào 4 khoảng cách còn lại. Parrasuraman & ctg cho rằng kỳ vọng về dịch vụ bị tác động bởi 3 yếu tố đó là lời đồn miệng, nhu cầu cá nhân và trải nghiệm trong quá khứ. Kỳ vọng càng cao thì khách hàng càng dễ khó có được cảm giác hài lòng sau khi sử dụng dịch vụ. 123doc -7- Trên cơ sở mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ, các tác giả đã xây dựng thang đo chất lượng SERVQUAL gồm 10 thành phần là: sự tin cậy, tính đáp ứng, năng lực phục vụ, tính tiếp cận, sự lịch sự, yếu tố thông tin, sự tín nhiệm, sự an toàn, sự hiểu biết khách hàng và yếu tố phương tiện hữu hình.