CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG VIỆC XỬ LÝ VÀ SỬ DỤNG XỈ THÉP Ở BÀ RỊA – VŨNG TÀU 1.1 Tổng quan về các điều kiện tự nhiên khí hậu Bà Rịa – Vũng Tàu Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, ở vị trí cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ, Bà Rịa - Vũng Tàu kết nối thuận lợi với thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác bằng đường bộ, đường không, đường thủy và đường sắt [8]. Bà Rịa – Vũng Tàu được biết đến với thành phố Vũng Tàu, thành phố du lịch biển nổi tiếng và là trung tâm của hoạt động khai thác dầu mỏ phía Nam, đã từng là trung tâm hành chính của tỉnh. Từ ngày 2 tháng 5 năm 2012, trung tâm hành chính – chính trị tỉnh chuyển đến thành phố Bà Rịa.
Địa lý Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, giáp tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, còn phía Tây và phía Nam giáp Biển Đông. Khí hậu Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm chia hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này có gió mùa Tây Nam. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27 °C, tháng thấp nhất khoảng 24,8 °C, tháng cao nhất khoảng 28,6 °C. Số giờ nắng rất cao, trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ. Lượng mưa trung bình 1500mm. Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão.
Địa hình Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính nằm trên đất liền và một đơn vị hành chính hải đảo là huyện Côn Đảo. Địa hình tỉnh có thể chia làm 4 vùng: bán đảo hải đảo, vùng đồi núi bán trung du và vùng thung lũng đồng 8 bằng ven biển. Bán đảo Vũng Tàu dài và hẹp diện tích 82,86 km2, độ cao trung bình 3-4m so với mặt biển. Hải đảo bao gồm quần đảo Côn Lôn và đảo Long Sơn.
Vùng đồi núi bán trung du nằm ở phía Bắc và Đông Bắc tỉnh phần lớn ở huyện Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc. Ở vùng này có vùng thung lũng đồng bằng ven biển bao gồm một phần đất của các huyện Tân Thành, Long Điền, Bà Rịa, Đất Đỏ. Khu vực này có những đồng lúa nước, xen lẫn những vạt đôi thấp và rừng thưa có những bãi cát ven biển. Thềm lục địa rộng trên 100.
Tổ chức hành chính Bà Rịa - Vũng Tàu có 2 thành phố trực thuộc tỉnh và 6 huyện. Trong đó được chia nhỏ thành 82 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 7 thị trấn, 29 phường và 46 xã. Các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Ðơn vị hành Diện Mật độ dân Số đơn vị Dân số Năm chính cấp tích số hành (người) thành lập Huyện (km²) (người/km²) chính TP. Vũng 16 phường 140 322.306 26/12/1992 Tàu và 1 xã 8 phường TP.339 22/8/2012 và 3 xã Huyện Long 2 thị trấn 77 140.824 9/12/2003 Điền và 5 xã Huyện Đất 2 thị trấn 189,57 76.659 404 9/12/2003 Đỏ và 6 xã Huyện Châu 14 xã và 1 422,6 141.300 334 2/6/1994 Đức thị trấn 9 Huyện Tân 1 thị trấn 306,19 107.000 350 2/6/1994 Thành và 9 xã Huyện Côn Thị trấn 76 6.000 79 10/1991 Đảo Côn Đảo Huyện 1 thi trấn 640,93 136.662 213 1991 Xuyên Mộc và 12 xã Nguồn: Website tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Hình 1.
Bản đồ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Quy hoạch đô thị đến năm 2020: Thành phố Vũng Tàu (Đô thị loại I), Thành phố Bà Rịa (Đô thị loại II), Thành phố Tân Thành(Đô thị loại III), Thị xã Long Điền (Đô thị loại IV), Thị xã Đất Đỏ và các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, Côn Đảo. Trong đó: 10 - Thành phố Vũng Tàu là trung tâm kinh tế, văn hóa, dịch vụ công cộng và đầu mối giao lưu của Miền Đông Nam Bộ cũng như của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là trung tâm du lịch, dịch vụ hàng hải phát triển cảng và khai thác dịch vụ dầu khí của cả nước. - Thành phố Bà Rịa là trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Thành phố Tân Thành trong tương lai (hiện nay là huyện Tân Thành) được xây dựng là đô thị công nghiệp, cảng biển, là trung tâm kinh tế quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía nam và của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Các đô thị vệ tinh như Châu Đức, Đất Đỏ, Long Điền, Xuyên Mộc hỗ trợ, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các đô thị cảng biển. Dân số Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh đạt gần 1.200 người, mật độ dân số đạt 516 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 512.100 người, dân số sống tại nông thôn đạt 515. Dân số nam đạt 513.410 người, trong khi đó nữ đạt 513. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,9 ‰ Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Trên địa bàn toàn tỉnh có 28 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống.
Trong đó, người kinh đông nhất với 972.095 người, tiếp sau đó làngười Hoa có 10.042 người, đông thứ ba là người Chơ Ro với 7.632 người người Khơ Me chiếm 2.878 người, Người Tày có 1.352 người, cùng một số dân tộc ích người khác như người Nùng có 993 người, người Mường có 693 người, người Thái có 230 người, ít nhất là các dân tộc như Người Xơ Đăng, Hà Nhì, Chu Ru, Cờ Lao mỗi dân tộc chỉ có 1 người, Người nước ngoài thì có 59 người. Tôn giáo Phật giáo: 292.000 tín đồ, 32255 tu sỹ, tăng ni, 334 cơ sở thờ tự.345 tín đồ, 995 linh mục, tu sỹ, 144 cơ sở thờ tự.148 tín đồ, 458 chức sắc, chức việc, 19 cơ sở thờ tự. Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam: 5.049 tín đồ, 15 chức sắc, 08 cơ sở thờ tự. Bửu Sơn Kỳ Hương: 1.
Tin Lành: 7000 tín đồ, 8 chức sắc, 7 cơ thờ tự. Tôn giáo khác: 4,34% Không theo bất kỳ tôn giáo nào: 46,11% Mỗi năm, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tăng thêm khoảng 30. Về lĩnh vực cảng biển: kể từ khi chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội ô Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam bộ, thuộc nhóm cảng biển số 05 bao gồm: TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu. Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải.
Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây. Sông Thị Vải có luồng sâu đảm bảo cho tàu có tải trọng trên 50.000 tấn cập cảng. Các tàu container trên 100.000 tấn đã có thể cập cảng BRVT đi thẳng sang các nước châu Âu, châu Mỹ. Tính đến nay, toàn tỉnh có 24/52 cảng đã đi vào hoạt động, các cảng còn lại đang trong quá trình quy hoạch và xây dựng.
Tỉnh BRVT là cửa ngõ giao thương của khu vực Miền Nam, nằm gần đường hàng hải quốc tế và là tỉnh có nhiều cảng biển nhất Việt Nam. Khu công nghiệp Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hiện có các khu công nghiệp và cụm công nghiệp sau: + KCN Long Sơn + KCN Sonadezi Châu Đức (Khu công nghiệp hiện đại nhất Việt Nam) 12 + KCN Phú Mỹ III (Khu công nghiệp đô thị chuyên sâu về công nghiệp hỗ trợ dành cho nhà đầu tư Nhật Bản) + KCN Đá Bạc (Cụm công nghiệp đô thị chuyên sâu về công nghiệp hỗ trợ dành cho nhà đầu tư Nhật Bản) + KCN Phú Mỹ I + KCN Đông Xuyên + KCN Mỹ Xuân A + KCN Mỹ Xuân A2 + KCN Mỹ Xuân B1- CONAC + KCN Cái Mép + KCN Phú Mỹ II + KCN Mỹ Xuân B1 - Tiến Hùng + KCN Mỹ Xuân B1 - Đại Dương + KCN Long Hương + KCN Đất Đỏ 1 + Tổ hợp lọc hóa dầu Long Sơn. + Đang quy hoạch thêm các khu công nghiệp ở huyện Đất Đỏ. Ngoài ra, tỉnh đã quy hoạch 29 cụm công nghiệp tại các huyện, thành phố trong tỉnh.
Giao thông vận tải Đường bộ: Tỉnh có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh nối các huyện thị với nhau. Quốc lộ 51A (8 làn xe) chạy qua tỉnh dài gần 50 km. Trong những năm tới sẽ có Đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu 6 làn xe song song với Quốc lộ 51A. Đường sông: Hệ thống các cảng biển như nêu trên.
Từ Vũng Tàu có thể đi Thành phố Hồ Chí Minh bằng tàu cánh ngầm. Hàng không: Sân bay Vũng Tàu chủ yếu phục vụ cho máy bay trực thăng thăm dò khai thác dầu khí. Trong tương lai, Sân bay Quốc tế Long 13 Thành được xây dựng cách Vũng Tàu 70 km, ranh giới tỉnh khoảng 20 km. Tỉnh cũng đang triển khai di dời sân bay Vũng Tàu sang đảo Gò Găng thuộc ngoại thành Vũng Tàu và xây dựng sân bay Gò Găng thành sân bay Quốc tế kết hợp với phục vụ hoạt động bay thăm dò và khai thác dầu khí.
- Đường sắt: hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh. Theo quy hoạch đến năm 2015 của ngành đường sắt, một đường sắt đôi cao tốc khổ rộng 1.435 m sẽ được xây dựng nối Tp HCM và Vũng Tàu, tốc độ thiết kế: trên 300 km/g. Tình hình sản xuất xỉ thép ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Hiện nay, thép được sản xuất bằng 3 công nghệ: Công nghệ lò cao - lò chuyển thổi ô xy - đúc liên tục; Công nghệ lò điện hồ quang - đúc liên tục; Công nghệ lò thùng. Ngoài các công nghệ chính nêu trên, có hai công nghệ mới phát triển là: hoàn nguyên nấu chảy - luyện thép lò chuyển - đúc liên tục, hoàn nguyên trực tiếp - luyện thép lò điện - đúc liên tục.
Ở Việt nam, phần lớn thép được sản xuất bằng công nghệ lò điện hồ quang - đúc liên tục (02) [10]. Sơ đồ công nghệ sản xuất thép bằng công nghệ lò điện hồ quang 14 Xỉ là phế thải trong công nghiệp luyện kim, làm phế phẩm trong quá trình sản xuất kim loại từ quặng sắt hay quá trình tinh chế kim loại không nguyên chất. Trong quặng sắt thường có lẫn những tạp chất sét và cát nên khi sản xuất người ta thường cho vào cùng với quặng sắt một hàm lượng đá vôi thích hợp nhất định vào lò nung. Trong quá trình nung, giữa quặng sắt và đá vôi có phản ứng tạo thành các hợp chất silicat canxi, silicat alumin và silicat aluminate canxi magie.
Xỉ thép được nấu chảy ở nhiệt độ 1400 – 1600oC.