ĐẶT VẤN ĐỀ Nếu nhƣ trong hệ thống phân loại các loài sinh vật có năm giới, hai giới khởi sinh (Monera) và nguyên sinh (Protista) là hai giới có độ tiến hóa thấp nhất thì giới thực vật (Plantae) và động vật (Animalia) là hai giới tiến hóa nhất. Và để chuyển hóa giữa hai cấp bậc trong thang bậc tiến hóa đó chính là giới nấm (Fungi). Với vai trò nối tiếp và chuyển hóa trong quá trình tiến hóa của sinh vật theo hai hƣớng là thực vật và động vật nhƣ vậy đủ thấy nấm có vai trò vô cùng quan trọng trong tiến hóa. Đối với cuộc sống đời thƣờng với đặc điểm là những sinh vật nhân thực, đơn bào hay đa bào, cấu trúc dạng sợi, phần lớn có thành tế bào chứa chitin, không có kujc lạp.
Phƣơng thức sinh sống : dị dƣỡng (hoại sinh hoặc kí sinh). Đại diện: Nấm men, Nấm sợi, Nấm đảm và Địa y. Nấm là thành phần của hệ sinh thái rừng, nó tạo nên sự đa dạng của hệ sinh thái. Nhiều loài nấm giữ vai trò quan trọng phân giải chất hữu cơ và trả lại chất vô cơ cho đất, xúc tiến tuần hoàn của các chất C, N, S, P.
có tác dụng làm sạch môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng không khí, tạo nên hệ thống tự bón phân điều tiết dinh dƣỡng cho rừng. Trong số các loài nấm lớn, nhiều loài nấm chứa axit amin, protein, lipit, vitamin có tác dụng cung cấp thức ăn và thuốc chữa bệnh vô cùng quý giá cho con ngƣời nhƣ nấm đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis), nấm linh chi (Gannoderma lucidum).có loài nấm còn đƣợc sử dụng làm thực phẩm nhƣ nấm rơm (Volvaria volvacae), nấm sò (Pleurotus sp.), nấm mỡ (Agaricus bisporus Sing. Bên cạnh những loài nấm có ích chƣa biết thì cũng có nhiều loài nấm có hại, gây độc cho con ngƣời, gây suy gan, suy thận, hôn mê,… thậm chí dẫn đến tử vong nếu ăn phải nấm độc. Có một số loài nấm độc có thể kể đến là loài nấm độc tán trắng (Amanita verna); nấm mũ đầu lâu mùa thu (Galerina marginata); nấm bắt ruồi (Amanita muscaria),…Nấm có rất nhiều loài, đa dạng về hình thái, màu sắc nên nhận biết, phân biệt đƣợc giữa nấm độc và nấm ăn đƣợc không hoàn toàn dễ nếu chúng ta không biết.
Trong những năm gần đây với sự gia tăng dân số, phá hủy tài nguyên rừng và sự biến đổi của môi trƣờng sinh thái, cùng với đó là sự thiếu hiểu biết và 1 cách sử dụng nấm không đúng, dẫn đến nhiều loài nấm đã bị mất đi, thậm chí còn không biết sự tồn tại của nấm. Vì thế việc nghiên cứu, bảo vệ và sử dụng hợp lý các loài nấm là rất cần thiết, là nhiệm vụ của các nhà khoa học và toàn thể ngƣời dân, là sự nghiệp vì thế hệ mai sau. Rừng thực nghiệm núi Luốt có hệ thực vật phong phú, đã tạo điều kiện tạo điều kiện tốt cho các loài nấm sinh trƣởng và phát triển, đặc biệt là các loài nấm lớn. Trƣớc đây, cũng có những nghiên cứu về nấm lớn nhƣng mỗi thời điểm khác nhau, sinh cảnh bắt gặp khác nhau và đặc điểm hình thái nấm lớn ở các giai đoạn phát triển khác nhau đã phần nào tạo nên sự đa dạng của nấm lớn tại khu vực này.
Chính vì vậy, để nhận biết và bổ sung thông tin về loài nấm lớn và đƣa ra các giải pháp quản lý, tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu sự đa dạng sinh học, sinh thái của các loài nấm lớn tại núi Luốt - Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam”. 2 CHƢƠNG I : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nấm lớn Nấm đƣợc phân loại riêng so với thực vật và động vật đƣợc gọi giới nấm. Đặc điểm phân loại quan trọng phân chia nó thành giới riêng có rất nhiều nguyên nhân.
Nấm chƣa cấu trúc mô, nấm có thể là đơn bào hoặc đa bào, không có chất diệp lục, chất dự trữ trong nấm không phải là tinh bột và glycogen nhƣ thực vật, động vật. Nấm sinh sản bằng bào tử hoặc sinh sản sinh dƣỡng (sợi nấm hay tơ nấm). Nấm là sinh vật hoại sinh chúng hấp thụ dinh dƣỡng từ các thực vật hoặc động vật chết, một số ký sinh. Tơ nấm trong suốt không màu nhƣng khi phát sinh bào tử có màu khác nhau (vàng, đỏ, đen, nâu.) nên ngƣời ta dễ nhầm lẫn màu của sợi nấm.
Với nhóm nấm lớn thì nấm mà ta thƣờng gọi thực ra là quả thể của sợi nấm. Quả thể có nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau. Một số nấm đƣợc biết đến có thể ăn đƣợc đã đƣợc chúng ta sử dụng từ lâu, nhƣng vẫn còn rất nhiều loại nấm chƣa xác định có độc tố rất mạnh nên chúng ta phải thật cẩn thận khi sử dụng những loại nấm lạ đặc biệt là có màu sắc sặc sỡ. Nấm là sinh vật không thể thiếu trong đời sống, không có nấm chu trình tuần hoàn vật chất sẽ bị mất một mắt xích quan trọng trong việc phân hủy chất bã hữu cơ.
Nấm còn đem lại nguồn thực phẩm giàu đạm, đầy đủ các acid amin thiết yếu, hàm lƣợng chất béo ít và là những acid béo chƣa bão hòa do đó tốt cho sức khỏe, giá trị năng lƣợng cao, giàu khoáng chất và các vitamin. Ngoài ra, trong nấm còn chứa nhiều hoạt chất có tính sinh học, góp phần ngăn ngừa và điều trị bệnh cho con ngƣời, vì hầu nhƣ các loài nấm ăn đều có tác dụng phòng ngừa chống u bƣớu. Hiện nay các nhà khoa học đang nghiên cứu và phát hiện ra trong thành phần của nấm có những hoạt chất có dƣợc tính rất mạnh với các căn bệnh nan y hiện nay nhƣ viêm gan, ung thƣ, HIV v.v Việc đƣa vào sử dụng rộng rãi các chế phẩm đƣợc tách chiết từ nấm sẽ giúp con ngƣời khỏe mạnh và phòng chống đƣợc nhiều căn bạn tiềm ẩn nguy hiểm nhƣ cao huyết áp. Các giống 3 nấm đƣợc biết đến nhiều có thể nhắc đến nhƣ Linh Chi, nấm Lim, nấm Thƣợng Hoàng.
Chúng tạo ra những bào tử giảm phân gọi là bào tử nang, mà đƣợc chứa trong một cấu trúc đặc biệt có dạng giống túi gọi là nang (ascus). Ngành này bao gồm nấm nhăn (moscela), vài loại nấm lớn và nấm cục, những nấm men đơn bào (nhƣ các chi Saccharomyces, Kluyveromyces, Pichia và Candida) và nhiều nấm sợi sống hoại sinh, kí sinh và cộng sinh. Nhiều loài nấm nang chỉ trải qua quá trình sinh sản vô tính (ở nấm gọi là anamorph), tuy nhiên, những dữ liệu phân tử đã giúp nhận dạng đƣợc những giai đoạn hữu tính (teleomorph) gần nhất của chúng ở nấm nang. Bởi những sản phẩm của quá trình giảm phân đƣợc chứa trong nang nấm, nên vài loài nấm nang (nhƣ Neurospora crassa) đƣợc sử dụng để giải thích những nguyên lý của di truyền học.
Ngành Basidiomycota (Nấm đảm), sản xuất ra những bào tử đảm chứa trong những thân hình dùi gọi là đảm. Đa phần những loài nấm lớn đều thuộc ngành này, cũng nhƣ nấm than hay nấm gỉ sắt là những mầm bệnh chính ở ngũ cốc. Những loài nấm đảm quan trọng khác bao gồm nấm Ustilago maydis gây bệnh cho ngô, chi nấm cộng sinh Malassezia gây nên gàu ở ngƣời, và nấm cơ hội gây bệnh viêm màng não, Cryptococcus neoformans. Nấm trên thế giới Theo quan điểm 5 giới (Whittaker), cùng với giới động vật, giới thực vật, giới sinh vật nguyên sinh và giới sinh vật nhân nguyên thủy, nấm tạo thành một giới riêng biệt trong sinh giới và giới nấm có ý nghĩa to lớn trong tuần hoàn vật chất, trong hệ sinh thái địa cầu và trong nền kinh tế quốc dân.
Nấm nói chung và nấm lớn nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con ngƣời, chúng là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dƣỡng (Termitomyces albuminosus, Macrocybe gegantea), là nguồn thức ăn quý đƣợc 4 nhân dân ƣa chuộng, chứa nhiều protein, các chất khoáng và vitamin (A, B, C, D, E. Nhiều loài nấm đƣợc sử dụng trong công nghiệp dƣợc phẩm, là nguồn nguyên liệu để điều chế các hoạt chất điều trị bệnh nhƣ Laricifomes officinalis là nguyên liệu để chiết aragicin dùng trong chữa bệnh lao hoặc dùng làm thuốc nhuận tràng. Chiết xuất hoạt chất từ nấm linh chi (Ganoderma sp.) đƣợc dùng để hỗ trợ điều trị nhiều bệnh nhƣ bệnh gan, tiết niệu, tim mạch, ung thƣ, AIDS. Trong thể quả của Ganoderma lucidum có các hoạt chất khác nhau có hoạt tính kháng virus.
Chúng có tác dụng kìm hãm sự sinh trƣởng và phát triển của virus HIV. Các hoạt chất từ Ganoderma applanatum có hiệu lực chống khối u cao, chúng đƣợc sử dụng trong điều trị ung thƣ: ung thƣ phổi, ung thƣ vú, ung thƣ dạ dày. Các dẫn xuất adenosine có trong Ganoderma capense và G. amboinense có tác dụng giảm đau, giãn cơ, ức chế kết dính tiền tiểu cầu.
Nhiều hoạt chất từ nấm Linh chi có khả năng đào thải phóng xạ, hạn chế và loại trừ những tổn thƣơng do phóng xạ ở mô và tế bào. Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M. Aime (2006) trông cuốn “Kingdom Fungi” mà Kirk P. biên soạn trong cuốn “Từ điển Nấm” (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008.
Chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycotina) thì ngành chính (Basidio-mycota). Theo Mao xiaogang (2000), Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài, phần lớn chúng thuộc các ngành nấm Lỗ. Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau nhƣ Radariv et al đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra. Trong danh mục nấm lỗ Israel, Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép đƣợc 242 loài thuộc 11 chi.
Trong rừng mƣa nhiệt đới Brazil năm 2002, Tatiana B. Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau nhƣ trên gỗ, trên cây sống, trên đất,. Tại Litva một số tác giả đã nghiên cứu thành phần loài nấm Lớn và nấm Nhầy, năm 2013 công bố 326 loài nấm lớn tại vƣờn Asveja Regional (Lithuania). 5 Năm 2013 Roy Halling, vƣờn Thực vật New York Mỹ đã phát hiện nhiều loài nấm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Thái Lan.
Nhà nấm học Nhật Bản, tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nƣớc Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (bộ nấm Lỗ Polyporales) ở Thái Lan và một số nƣớc khác nhƣ Congo, Nam Phi và Đài Loan. Đặc biệt, những năm gần đây các nhà nấm học tập trung phân loại nấm Linh chi (Ganoderma sp.) ở các nƣớc nhiệt đới.