CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm Stress Thuật ngữ stress xuất hiện lần đầu tiên là trong ngành vật lý để chỉ một vật bị đề nén. Cho đến đầu thế kỷ XVI stress được phát triển thêm để chỉ việc con người phải chịu một sức ép hay một xâm lấn tác động lên con người gây ra phản ứng (12). Vào năm 1959, stress được định nghĩa là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống cẳng thẳng tuy nhiên stress cũng cũng có những mặt tích cực trong việc huy động sức mạnh của giải quyết các vẫn đề tiêu cực (13). “Stress là căng thẳng thể lý và tâm lý phát sinh do những tình huống, sự trải nghiệm, khó có thể chịu đượng được hoặc vượt qua, như những biến cố nghề nghiệp, kinh tế, xã hội, cảm xúc hoặc thể ly” theo (2003) (14).
Theo phát biểu của Hans Selye được nên trong cuốn sách Stress: definition and history (2010) có nêu stress là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ nhu cầu nào trong cuộc sống (15). Có thể thấy ở mỗi góc động khác nhau, các nhìn khác nhau stress sẽ có những định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, qua những phát biểu và các khái niệm stress được nêu ra từ trước đến nay có thể thấy stress có thể là một trong những tác nhân môi trường, một tác nhân làm thay đổi tâm lý, một số thay đổi về cảm xúc sinh lý, cảm xúc (16), (17),(18). Một số nội dung liên quan về stress 1.
Mức độ stress Có nhiều cách phân loại mức độ stress khác nhau. Người đầu tiên nghiên cứu và nhận định stress có 2 mức độ là stress tiêu cực và stress tích cực. Trong đó, stress tích cực được xem là mức độ bình thường, là các loại phản ứng của cơ thể để thích nghi với các môi trường xung quanh. Các yếu tố gây ra áp lực tác động lên một cá thể nào đó mà ở một giới hạn nhất định và cá thể đó có thể phát huy những nguồn lực tiền ẩn bên trong để vượt qua nó.
Nhưng bên cạnh đó, stress tiêu cực lại tạo ra những áp lực vượt quá giới hạn chịu đựng của một cá thể, làm cạn kiệt sức lực tạo nên những ảo giác hình thành những 5 bức tường tâm lý muốn trốn tránh những áp lực đó dẫn đến các suy nghĩ làm hại đến bản thân và những người xung quanh (13). Theo Nguyễn Thành Khải (2001) cho biết stress có 3 mức độ đó là: rất căng thẳng, căng thẳng và ít căng thẳng. Mỗi một mức độ khác nhau sẽ có những ảnh hưởng tâm lý khác nhau. Mức độ rất căng thẳng là mức độ mà cá thể đó luôn cảm thấy khó chịu, rất căng thẳng trong tâm lý, bản thân cá thể đó luôn luôn mong muốn được thoát khỏi cảm giác đó.
Mức độ căng thẳng làm cho cá thể cảm thấy căng thẳng trong người, trong suy nghĩ, tâm lý. Đối với công việc cũng như cuộc sống sẽ cảm thấy trí nhớ bị suy giảm, hiệu suất công việc bị giảm sút. Nếu tình trạng căng thẳng kéo dài có thể dẫn đến tình trạng rất căng thẳng có thể sẽ có những hành động, suy nghĩ làm hại đến chính bản thân cũng như những người xung quanh. Mức độ thấp nhất là mức độ ít căng thẳng, đối với mức độ này hầu hết mọi người đều gặp phải trường hợp do áp lực công việc hằng ngày, áp lực gia đình và cơ thể.
Đối với mức độ này cá thể vẫn hoạt động, sinh hoạt bình thường và sẽ có những hoạt động giải trí nhẹ nhàng làm thư thái đầu óc để vượt qua những vấn đề stress luôn gặp trong cuộc sống thường ngày (19). Biểu hiện thường gặp của stress Stress ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống bao gồm cảm xúc, hành vi, khả năng suy nghĩ và sức khỏe thể chất. Mỗi người sẽ có cách ứng phó trước stress khác nhau nên các biểu hiện của stress hầu hết không đặc hiệu (20). Tuy nhiên, thường có 3 nhóm biểu hiện chính bao gồm: Các biểu hiện hành vi/cảm xúc chính như giận dữ và thù địch, nghiến răng, sự e ngại, lưỡng lự, khiếu nại, hành vi phòng thủ, tâm trạng lâng lâng, từ chối; Các biểu hiện về nhận thức/ học tập chính như hay quên, thiếu tập trung, thiếu sự chú ý, thiếu định hướng; Và các biểu hiện sinh học chính như mệt mỏi, khó tiêu, mất ngủ, ăn không ngon, buồn nôn, tim đập nhanh,… 1.
Một số thang đo stress 1. Thang đo đánh giá Stress Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng stress sử dụng các thang đo khác nhau trên mọi đối tượng trong đó có đối tượng là sinh viên. Các thang đo thường 6 gặp như thang đo đánh giá về stress GHQ-12, thang đo rối loạn lo âu Zung Self - Rating Anxiety Scale (SAS), thang đo trầm cảm Patient Health Questionnaire-9 (PHQ-9), thang đo đánh giá lo âu General Anxiety Disorder-7 (GAD-7). Thang đo đánh giá trầm cảm Beck (Beck Depression Inventory – BDI) đã được Beck và cộng sự (1961) đã đề xuất và được gợi ý từ những quan sát lâm sàng trên bệnh nhân bị bệnh trầm cảm, nhất là từ liệu pháp tâm thần.
Thang đo này đã được WHO đánh giá và thừa nhận tính hiệu quả cao trong việc đánh giá trạng thái trầm cảm trong việc thực hiện các liệu pháp điều trị. Thang đo BDI đã được xây dựng để đánh giá cường độ, mức độ và cảm nhận về nhận thức của bệnh nhân có chứng rối loạn tâm thần. Bộ câu hỏi gồm 21 câu hỏi, mỗi câu hỏi sẽ có từ 4 đến 6 mục nhỏ. Để đánh giá dấu hiệu trầm cảm của đối tượng thì dựa vào tổng điểm các câu trả lời, nếu điểm càng cao thì dấu hiệu trầm cảm càng cao (21).
Thang đo đánh giá mức độ căng thẳng (PSS-10) của tác giả Sheldon Cohen gồm có 10 câu hỏi nhằm đánh giá cảm nhận của đối tượng có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên về stress trong vòng 30 ngày (22, 23). Các câu hỏi sẽ có các câu trả lời với 5 mức độ để đánh giá, các mức độ được chia từ không bao giờ; hầu như không bao giờ; thỉnh thoảng; khá thường xuyên và rất thường xuyên. Để biết được dấu hiệu stress ở sinh viên sẽ được tính bằng tổng điểm các câu hỏi, nếu có điểm càng cao dấu hiệu stress ở sinh viên đó càng cao, bộ công cụ có giá trị Crobach α = 0,78 (22). Thang đo đã được một số tác giả Việt Nam sử dụng để đánh giá mức độ stress trên đối tượng sinh viên.
Như nghiên cứu của tác giả Hồ Ngọc Quỳnh sử dụng để đánh giá mức độ stress của sinh viên Y tế công cộng của Trường Đại học Y dược Hồ Chí Minh (24). Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu về việc chuẩn hóa bộ câu hỏi sang tiếng Việt. Thang đo stress SRQ-20 (Seft Reporting Questionnaire - 20) bao gồm 20 câu hỏi dành cho cá nhân tự đánh giá về các triệu chứng của stress về 2 mặt thể chất và tính thần trong vòng 30 ngày. Theo kết quả tự đánh giá nếu có 7/20 triệu chúng được nhắc đến trong bộ câu hỏi sẽ được chẩn đoán là stress.
Bộ câu hỏi đã được chuẩn hóa tại Việt Nam năm 2004 và đã được sử dụng trong một số nghiên cứu trong đó có nghiên cứu của tác 7 giả Phạm Thị Huyền Trang với đối tượng của nghiên cứu là sinh viên Y Dược Hà Nội (25-27). Thang đo ENSS (Expanded Nursing Stress Scale) là phiên bản được mở rộng và cập nhật của thang đo NSS (Nursing Stress Scale) là bộ công cụ đầu tiên đánh giá căng thẳng trong công việc điều dưỡng. Thang đo gồm có 34 mục và đánh giá chủ yếu trong việc chăm sóc bệnh nhân (28). Thang đo đã được chuẩn hóa và sử dụng trên nhiều quốc quốc gia trong đó có Châu Á.
Tuy nhiên, ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại vẫn còn khá ít nghiên cứu sử dụng thang đó ENSS (29, 30). Thang đo lo âu – trầm cảm – stress DASS được P.Lovibond thuộc khoa tâm lý trường Đại học New South Wales của Úc nghiên cứu, phát triển và công bố năm 1995. Thang điểm DASS được thiết kế đặc biệt để tối đa hóa tính nhất quán tính của 2 thang đo BDI và BAI. Thang đo đã được chứng minh có thể sử dụng để đo lường cả stress, lo âu và trầm cảm với độ tin cậy cao và thuận tiện cho các nghiên cứu có thể sử dụng để xử lý các vấn đề sức khỏe tâm thần phức tạp (31).
Thang đo DASS gồm có 2 phiên bản DASS-42 và DASS-21, trong đó DASS-42 được chia làm 3 nhóm nhỏ và 14 tiểu mục để đánh giá về sức khỏe tâm thần ở các vấn đề lo âu, trầm cảm, stress. Lovibond đã phát triển và rút gọn thang đo DASS-42 thành thang thang đo DASS-21 với mục tiêu sẽ giúp cho người sử dụng được thuận tiện và dễ sử dụng. DASS-21 được chia thành 3 nhóm nhỏ, mỗi nhóm nhỏ gồm có 7 tiều mục điểm cho mỗi tiểu mục được tính điểm từ 0 đến 3. Nêu tính tổng hết 21 câu điểm càng cao thì mức độ stress càng cao.
Qua các năm, thang đo DASS-21 được sử dụng một cách hợp lệ để đo các kích thước của trầm cảm, lo lắng và stress. Tính nhất quán bên trong, độ tin cậy và hiệu lực đồng thời của DASS và DASS-21 nằm trong phạm vi chấp nhận được cho đến xuất sắc. Thang đo DASS-21 chỉ tính dấu hiệu stress ở đối tượng nghiên cứu trong vòng 7 ngày trở lại nên kết quả thu được từ thang đo DASS-21 chỉ có giá trị ngay tại thời điểm nghiên cứu chứ không có giá trị trong thời gian trước và sau thời điểm nghiên cứu (32-34). 8 Thang đo DASS-21 đã được tác giả Lê Thị Hồng Minh và cộng sự đã có nghiên cứu về thang đo trên đối tượng là người Việt Nam và có kết quả với độ tin cậy cao thể hiện tính nhất quán bên trong phù hợp (Cronbach α: 0,761 đến 0,906), bên cạnh đó thang đo DASS – 21 đã được Viện sức khỏe Quốc gia đã chuẩn hóa bộ câu hỏi và được áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam.
Đối với việc đánh giá mức độ stress - lo âu - trầm cảm trong thang đo DASS-21 sẽ có cùng công thức tính toán tuy nhiên điểm số để đánh giá mức độ sẽ khác nhau. Thang đo DASS-21 dùng để đánh giá đối tượng nghiên cứu có stress hay không khi đối tượng nghiên cứu có số điểm lớn hơn 14 (35, 36).