Chương 1: Vai trò của Biển Đông và nguồn gốc, quá trình phát triển của yêu sách phi lý “đường lưỡi bò”; Chương 2: Yêu sách phi lý “đường lưỡi bò” của Trung Quốc dưới góc độ Luật Quốc tế; Chương 3: Một số kiến nghị giải pháp cho Việt Nam. PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1: VAI TRO CUA BIEN ĐÔNG VÀ NGUON GÓC, QUÁ TRINH PHAT TRIEN CUA YEU SACH PHI LY “DUONG LUOI BO” 1. Vị trí địa chiến lược của Biển Đông Biển Đông là vùng biển “nửa kín” (marginal sea) lớn nhất ở vùng Tây Thái Bình Dương), có điện tích khoảng 3,5 triệu km’, trải rộng từ 3,50 vĩ Bắc đến 26° vĩ Bắc và 100° kinh Đông cho đến 121° kinh Đông. Có chin nước hiện đang tiếp giáp với Biển Đông bao gồm Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và một phan lãnh thổ là Dai Loan.
Biển Đông được đánh giá là một khu vực chiến lược cực kì quan trọng bởi vi tri của nó hình thành nên những thuận lợi đặc biệt về kinh tế- chính trị, an ninh quốc phòng đối với các quốc gia có lãnh thé tiếp giáp. Cụ thé như sau: Trước hết, Biên Đông nằm trong một khu vực chiến lược ở châu Á bởi đây là một trong những tuyến hàng hải huyết mạch nối liền Thái Bình Dương — An Độ Dương, Châu Âu — Châu A, Trung Đông — Châu A. Chính vi vậy, vùng biển này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thương mại hàng hải toàn cầu. Năm trong số mười tuyến đường biến thông thương lớn nhất trên thé giới liên quan đến Biển Đông bao gồm: tuyến Tay Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Suez, Trung Đông đến An Độ, Đông Á, Úc, New Zealand; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc, New Zealand và Nam Thái Bình Dương: tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á.
Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng từ 150 — 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tan, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biến, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thé giới là cảng Singapore và Hồng Kông. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực.
Điểm trọng yếu thứ hai khién Biên Đông trở thành vị trí địa chiến lược là các đảo, quần đảo ngoài khơi, như Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm ở vị trí trung tâm — một trong những nơi có nhiều tuyên đường hàng hải di qua nhất trên thé giới. Các quần đảo này đóng vai trò cực kỳ quan trọng với tư cách là các vị trí phòng thủ chiến ?Fu Ying, Wu Shicun, South China Sea: How we got to this stage, May 9/2016. Trong bài viết có đề cập đến thuật ngữ ving biên “nửa kín” (marginal sea). Vùng biển nửa kin là vùng biển có một phan đại dương bi bao bọc bởi đảo, quần đảo và bán đảo và thông với đại dương hoặc và bị giới hạn bởi dai núi ngầm trên đáy biển.
Tham khảo từ: https://www.com/marginal-sea. 3Sỹ Tuấn, Diệu Thúy, Biển Đông có vị trí trọng yếu ra sao, https://vietnamnet.vn/vn/chu-quyen-hoang-sa- truong-sa/bien-dong-co-vi-tri-trong-yeu-ra-sao-420498.html, truy cập 12/12/2020. lược trọng yếu đối với nhiều quốc gia trong khu vực Biển Đông. Đồng thời là các cơ sở hậu cần phục vụ các hoạt động biển xa, như kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại trên Biển Đông; dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra-đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền.
Các chiến lược gia phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ kiểm soát và khống chế được toàn bộ Biên Đông. Thứ ba, về tầm quan trọng của môi trường, Biển Đông được coi là trung tâm của thế giới về đa dang sinh học. Theo thống kê, trong Biển Đông tập trung 12% tong diện tích rừng ngập mặn của thế giới và 30% tổng diện tích rừng ngập mặn của Châu A. Đây cũng là nơi có 20% tổng diện tích rạn san hô của khu vực Đông Nam A — khu vực có 34% tổng diện tích san hô của thế ĐIỚI.
Thứ tư, Biên Đông được đánh giá là một vùng biển có nguồn lợi hai sản dồi dao và quan trọng nhất trên thế giới. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Biển Đông là vùng biển được xếp hạng thứ 4 trong số 19 khu vực đánh cá tốt nhất trên thé giới về tông sản lượng đánh bắt cá hàng năm. Nguồn lợi hải sản Biển Đông được cho là có khoảng hơn 1.000 loài cá, hơn 90 loài tôm va hơn 70 loài thân mềm. Khai thác hải sản là một ngành kinh tế rất quan trọng đối với các quốc gia ven Biển Đông.
Mỗi năm có khoảng 6 triệu tấn hải sản được đánh bắt tại đây, tương đương 10% tổng khối lượng hải sản được đánh bắt trên toàn thế giới. Thứ năm, Biên Đông còn có trữ lượng dau, khí tự nhiên đồi dào (tam khoảng 11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn ti m khí tự nhiên)" cũng như nguồn kim khí, đá quý hiếm. Hiện nay Philippines đang khai thác đầu mỏ ở khu vực Bãi Cỏ Rong (Reed Bank). Vùng biển của Brunei cũng sở hữu trữ lượng dầu mỏ tương đối lớn; đảo Natuna có | túi khí vào loại lớn nhất thế giới.
Phía Tây Nam đảo Hải Nam hiện nay cũng phát hiện có mỏ khí. Việt Nam hiện đang khai thác các mỏ dầu Bạch Hồ, Rồng, Đại Hùng với trữ lượng khai thác được vào khoảng hon hai triệu tan dầu thô. Đồng thời, tại vùng biển Việt Nam, chúng ta phát hiện loại hình tài nguyên mới của thế giới: “băng cháy””. Vùng ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như titan, zircon, thiéc, vàng, sắt, mangan, thạch cao, dat hiêm.Š *Kuan-Hsiung WANG, Professor of the Graduate Institute of Political Science, National Taiwan Normal University, Peaceful settlement of disputes in the South China Sea through fisheries resources cooperation and management, tr.
‘Thong kê của co quan quản lý năng lượng Hoa Kỳ, https://amti.org/south-china-sea-energy-exploration- and-development/, truy cập 13/12/2020. ‘Luu Văn Lợi, Biển Đông, Thái Bình Dương và Việt Nam, http://nghiencuubiendong.vn/hoi-thao-khac/hi-tho- trong-nc-thang-32009/636-lu-vn-li-bin-ong-thai-binh-dng-va-vit-nam, truy cập ngày 23/03/2020. TMột nguôn năng lượng mới dùng dé thay thé cho năng lượng hóa thạch, có thể cung cấp cho con người nguồn năng lượng khổng lồ đủ dùng trong vòng 2000 năm nữa. %Đức Hồng, Tiêm năng dau khí trên biển Việt Nam, https://baobinhphuoc.vn/Content/tiem-nang-dau-khi- tren-bien-viet-nam-15414, truy cập 14/12/2020.
Như vậy, với vị trí địa chiến lược đặc biệt quan trọng, cũng như trữ lượng khoáng sản d6i dào, vùng biển này từ lâu là một địa bàn tranh chấp giữa các nước lớn. Thế kỷ XVII là cuộc tranh giành giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, thế kỷ XIX là cuộc tranh giành giữa Anh và Pháp. Thế kỷ XX, trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật Bản đã chiếm Đông Dương, Philippines, Malaysia, Thái Lan, đảo Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nắm rõ về vị trí chiến lược của Biển Đông, Trung Quốc từ lâu đã có dã tâm độc chiếm vùng biển này nhằm phục vụ cho mưu cầu bá chủ thế giới của mình.
Trung Quốc giờ đây bat chấp luật pháp quốc tế, sử dụng yêu sách “đường lưỡi bò” dé thực hiện một loạt các hành động nhằm thực hóa mưu đồ độc chiếm tuyến đường vận tải biển huyết mach của thé giới. Nguồn gốc của yêu sách phi lý “đường lưỡi bò” “Đường lưỡi bỏ” (Cow’s tongue line) hay còn gọi là “Đường 9 đoạn ”(Nine Dash line) và đôi khi còn được biết đến dưới cái tên là “Đường chữ U” (U — Shaped line) là đường quốc giới hải vực Biển Đông mà Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa chủ trương và đơn phương tuyên bố chủ quyền một cách phi lý và trắng trợn. Con đường này được vẽ sát vào ven bờ của các quốc gia Biển Đông làm ảnh hưởng nghiêm trọng chủ quyền của các quốc gia ven biển bao gồm: Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines và cuối cùng là Indonesia. Có thể nói, yêu sách “đường lưỡi bò” được đưa ra một cách không chính thức từ hai chính quyền: một là Cộng Hòa Trung Hoa (Republic of China), sau thất bại năm 1949 phải chạy ra Đài Loan (từ thời điểm này gọi là chính quyền Đài Loan) và thứ hai là từ chính quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập từ năm 1949 tới nay (People’s Republic of China).° Có rất nhiều luồng quan điểm của các học giả Dai Loan va Trung Quốc Dai Lục về nguồn gốc hình thành của con đường này nhưng hầu hết đều cho rằng tháng 04 năm 1935, để đối phó với yêu sách của Pháp đối với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, Cộng Hòa Trung Hoa đã cho xuất bản một bản đồ chính thức đầu tiên là Zhongguo Nanhai gedeo yu tu (Bản đồ các đảo Hải Nam)!, bản đồ này lúc ấy chưa thể hiện “đường chữ U”!!!?, Trước đó vào khoảng giữa những năm 30 của thế ky XX, lần đầu tiên bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam được thê hiện dưới cái tên Trung Quôc “Tây Sa quân đảo” và “Nam °Hoàng Việt, Phân tích các yêu sách về “đường lưỡi bò” theo luật quốc tế, http://nghiencuubiendong.vn/nghien -cuu-VietNam/938-Hoang-Viet, truy cập ngay 10/02/2020.
Ban đồ được thé hiện ở Phụ luc 01 "Ti Jin Ming and Li De Xia, The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note, Ocean Development & International Law, 34:287-295, 2003, tr. "Vann Huei Song, Peter Kien-Hong Yu, China’s “historic waters” in the South China Sea: an analysis from Taiwan, American Asian Review Vol. Sa quần đảo” trong bản đồ phụ tỉnh Quảng Đông, in trong tập Trung Quốc phân tinh tân đồ xuất bản ở Thượng Hải. Giai đoạn năm 1946 — 1947, sư đoàn Fangyu thuộc Bộ Nội Vụ Cộng Hòa Trung Hoa đã cùng hạm đội của mình vào phía Nam dé hoàn thành khảo sát thực địa các đảo trên Biển Đông.
Sau khi hoàn thành việc khảo sát, Sư đoàn Fangyu đã vẽ ban đồ chính thức về Biển Đông, hoàn thành việc đặt tên mới cho các đảo ở Biển Đông dựa trên vị trí địa lý của từng hòn đảo và tự ý phân định 11 đoạn trên ban đồ dé đánh dấu yêu sách phi lý về “chủ quyền” trên Biển Đông!3. Căn cứ vào kết quả chuyến đi khảo sát thực địa trên Biển Đông, Bộ Nội Vụ Trung Hoa Dân Quốc đã hoàn thành một bảng tham chiếu chéo cho các tên cũ và mới của 159 đảo lớn nhỏ tại Biến Đông. Bảng tham chiếu này đã chính thức được công bố vào tháng 12 năm 1947.!