Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TÍNH TÍCH CUC HỌC TAP CUA SINH VIÊN 1. Tính tích cực 1. Khái niệm tính tích cực Tính tích cực là nội dung được rât nhiêu tác giả quan tâm và nghiên cứu dưới nhiêu góc độ khác nhau. Các nhà sinh học đã nghiên cứu và giải thích khác nhau về bản chất sinh lý của tính tích cực.
Chang han, tác giả LP. Paplop cho rằng cơ sở sinh lý thần kinh của tính tích cực chính là hoạt động của vỏ bán cầu đại não và hệ thống tín hiệu thứ hai. Đó chính là thứ làm nên sự khác biệt giữa con người và con vật. Trong khi con vật chỉ hoạt động một cách bắt chước thì con người hành động một cách chủ động, có tính tích cực [dẫn theo 10, tr.
Theo tác giả LM. Xêtrênôp hoạt động là phản ứng của hoàn cảnh bên trong và bên ngoài của cuộc sống con người. Nguyên nhân đầu tiên của mọi hành động của con người vốn nằm ở bên ngoài nó, bởi ông đã theo quan điểm chủ đạo cho rằng tâm lý là cơ năng của cái phần nhỏ đặc biệt phức tạp của vật chất mà người ta gọi là bộ não người [dẫn theo 10, tr. Các nhà triết học cho rằng mỗi sự vật bao giờ cũng thể hiện tính tích cực của nó bởi vật chất luôn vận động và phát trién không ngừng.
Lénin, tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thé đối với khách thé và đối tượng sự vật xung quanh; là khả năng của mỗi người đối với việc tổ chức cuộc sông, điều chỉnh những nhu cầu, năng lực của họ thông qua các mối quan hệ xã hội. Tính tích cực không chỉ là trạng thái tâm lý được huy động vào một thời điểm nhất định mà đó là thuộc tính chung cho tất cả các chức năng, khả năng và sức mạnh của cá nhân. Tính tích cực được thể hiện ở việc con người chinh phục cải tạo thé giới cũng như chính bản thân mình và được thực hiện thông qua hoạt động sáng tạo — một loại hoạt động đặc biệt được thôi túc do tính tất yếu bên trong, do nhu cau, lợi ích của chủ thé. Có thể nói tính tích cực là phẩm chất xã hội căn bản của mỗi người [18, tr.
Các nhà tâm lý học thì giải thích tính tích cực là đặc điểm chung của các cơ thê song. Trong mỗi tương quan với hoạt động, tính tích cực đóng vai trò là điều kiện, động lực 11 của các quá trình hình thành, thực hiện va thay đổi về loại hình của hoạt động, nó là thuộc tính quan trọng của sự vận động nội sinh của hoạt động. Tính tích cực được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra, tính thù của những trạng thái bên trong của chủ thé ở thời điểm hành động, tính qui định của mục đích hiện hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh (tức sự vượt qua các giới hạn của mục đích ban đầu) và tính bền vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua [3, tr. Tính tích cực được các nhà tâm lý học đặc biệt chú ý và nghiên cứu theo các hướng lý thuyết chính như: phân tâm học, tâm lý học nhân văn, tâm lý học hành vi và tâm lý học hoạt động.
Lý thuyết phân tâm học (S.) cho rằng ban năng, mà đặc biệt là ban năng tình dục (S. Freud), những lo lang cơ ban (K. Horney), “hướng tới yêu thương” (E. Fromm), kích thích tính tích cực hoạt động của con người [7], [25], [27], [26].
Lý thuyết của các nhà tâm lý học nhân văn (C. Maslow) lại cho rằng mô hình tính tích cực được thê hiện trong quan hệ “nhu cầu — tính tích cực”. Theo đó, nguồn góc tính tích cực của con người là mong muốn hiện thực hóa nhu cầu của mình [7], [29], [28]. Lý thuyết tâm lý hoc hành vi (J.
Bandura) cho rang cái thúc day tính tích cực hành động của con người là tính chất của kích thích. Điều đó có thê được hiểu là khi tăng cường những hành vi củng cố tích cực như tăng giá trị, khen ngợi sau mỗi lần thực hiện hành vi sẽ giúp tăng tính tích cực của con người [10], [31], [30], [24]. Lý thuyết tâm ly hoc hoạt động cho răng tính tích cực gắn liền với hoạt động va hoàn cảnh bên ngoài, nó được thé hiện như động lực dé hình thành và hiện thực hóa hoạt động. Các nhà tâm lý học hoạt động đã nghiên cứu và xem xét tính tích cực chủ yếu từ bốn góc độ: chức năng, vai trò của chủ thé đối với thé giới bên ngoài; tính tích cực gắn với hành động và được thể hiện ở các mức độ lĩnh hội; các dấu hiệu của tính tích cực; bốn chỉ số tính tích cực bao hàm và thê hiện [12, tr.
Các nhà tâm lý học Việt Nam (Lê Khanh, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uan, Trần Quốc Thành.) đều thống nhất cho rằng, nhân cách là sản phâm của các quá trình tác 12 động qua lại giữa cá nhân và môi trường, tức nhân cách vừa là khách thể vừa là chủ thê, là một sản phẩm nhân cách điển hình của con người. Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách, được biéu hiện trước hết ở việc xác định tính tự giác thực hiện hoạt động, giao tiếp nhằm thực hiện hoá mục đích [22], [4]. Tính tích cực của nhân cách được thê hiện ở những hoạt động đa dạng nhăm biến đồi, cải tạo thé giới xung quanh, cải tạo bản thân con người mình, cải tạo những đặc trưng tâm lý cua mình (hoạt động tự giáo duc) [4], [21]. Tác giả Nguyễn Thị Tình cho rằng, tính tích cực là ý thức tự giác của con người về mục đích của hoạt động, thé hiện ở lòng say mê đối với hoạt động; sự chủ động, sáng tạo và nỗ lực vượt mọi khó khăn trong hoạt động nhằm tô chức và thực hiện hoạt động có hiệu quả.
Tính tích cực được nảy sinh, hình thành, phát triển và biểu hiện trong hoạt động [18, tr. Hai tác giả Lê Thị Minh Loan và Đặng Thanh Nga cho rằng tính tích cực gắn liền với ý thức tự giác của con người, thể hiện sự chủ động, hứng thú, sáng tạo và nỗ lực vượt khó khăn của con người trong các dạng hoạt động cụ thé dé đạt được mục đích [10, tr. Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các quan điểm khác nhau về tính tích cực, chúng tôi nhận thấy rằng, trong nội hàm khái niệm tính tích cực luôn tỒn tại sự tự giác, chủ động, sự hứng thú, sáng tạo và nỗ lực vượt lên khó khăn dé đạt được mục đích hoạt động. Và trong nghiên cứu này, tính tích cực được hiểu là ý thitc tw giác của của con người thể hiện ở sự chủ động, hứng thu, sang tao và nỗ lực vượt khó nhằm thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động.
Vai tro của tính tích cực Có thé nói, tính tích cực là một trong những phẩm chat cơ bản của nhân cách. Một cá nhân chỉ được thừa nhận là một nhân cách khi cá nhân đó tích cực hoạt động, nhận thức, sáng tạo, cải tạo thế giới cũng như chính bản thân mình. Tính tích cực của nhân cách sẽ cho thay gia tri đích thực cua nhân cách ay, chức nang xã hội cũng như cốt cách làm người của mỗi cá nhân [12, tr. Tính tích cực có vai trò quan trọng trong những thành công mà chúng ta đạt được.
Nó như một động lực thúc đây con người nỗ lực hành động vì mục tiêu của mình. Đó cũng là nguôn gôc của sự sáng tạo, góp phân nâng cao năng suât, chât lượng và hiệu quả 13 của công việc. Có thê nói, tính tích cực là yêu tô quyêt định trực tiêp đên hiệu quả và chất lượng mọi hoạt động của bản thân, giúp con người hướng tới sự thành công. Hoạt động học tập 1.
Khái niệm hoạt dong học tập Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “hoạt động học tập” nhưng nhìn chung, có thê hiểu đây là một trong những hoạt động đặc thù của con người. Thông qua đó, con người tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm. Đó là một quá trình cân rât nhiêu sự cô găng và nô lực. Trên thê giới có rat nhiêu quan diém khác nhau về khái niệm học tập.
Công trình nghiên cứu của các tác giả A. Taludia chỉ ra hoạt động học tập xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ giảng dạy những biểu hiện ở hình thành tâm lý bên ngoài và bên trong của hoạt động đó [20, tr. Trong nghiên cứu của mình, tác giả L. Encônhin cho rằng học tập là việc lĩnh hội tri thức [20, tr.
Theo quan niệm của tác giả A. Petrovxki thì học tập là vấn đề phâm chất tư duy và kết hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ giảng dạy [20, tr. Intenxơn thì cho rằng học tập là một loại hoạt động đặc biệt của con người nhằm vững tri thức, kỹ năng và các hình thức nhất định của hành vi, bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn [20, tr. Cudomin lại coi học tập là loại hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy [20, tr.
Trong cuốn giáo trình tâm lý học do tác giả Nguyễn Văn Huệ chủ biên có viết: Hoạt động học tập là hoạt động có ý thức nhằm thay đôi bản thân chủ thé hoạt động. Trong đó, các phương thức chung của việc thực hiện những hành động nhận thức và thực tiễn trở thành mục đích trung tâm của hoạt động [9, tr. Các tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan và Dang Thanh Nga thì cho rang hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người, được điều khién bởi mục đích tự giác, 14 nhằm lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hay những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định [8, tr. Dựa vào những công trình của các nhà nghiên cứu, chúng tôi đưa ra khái niệm về hoạt động học tập như sau: Hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người, thông qua đó con người lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội, tri thức, thai độ, kĩ năng nhằm hoàn thiện nhân cách cua mình và dap ứng các yêu cau mà xã hội đặt ra cho người hoc.
Các đặc diém đặc trưng của học tập Đặc điểm chung nhất của hoạt động học tập là sự tìm tòi và tiếp thu tri thức. Từ đây dẫn đến những đặc điểm khác của học tập như sự luyện tập, trau dồi kỹ năng và hình thành những kinh nghiệm.