Chương 1. Khái quát về ban hành văn ban trong bối cảnh đại dich Covid - 19 Chương 2. Thực trạng ban hành văn bản trong bối cảnh đại dich Covid — 19 ở Việt Nam hiện nay Chương 3. Quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng ban hành văn bản trong bối cảnh đại dịch Covid - 19 CHUONG 1.
KHAI QUAT VE BAN HANH VAN BAN TRONG BOI CANH DAI DICH COVID-19 1. Bối cảnh dai dịch Covid-19 và nhu cầu ban hành van ban Ngày 31/12/2019, trường hợp được chân đoán là viêm phối không rõ nguyên nhân được phát hiện tại Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Tác nhân gây bệnh được xác định từ các mẫu tăm bông do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Trung Quốc (CCDC) tiến hành vào ngày 07/01/2020, sau đó Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đặt tên là Hội chứng hô hấp cấp tính nặng Coronavirus 2 (SARS-CoV-2). Ngày 23/01/2020 là thời điểm lần đầu tiên xuất hiện ca nhiễm bệnh Covid tại Việt Nam, trở về Hồ Chí Minh từ Vũ Hán.
Kê từ thời điểm này toàn bộ hệ thống chính tri , đặc biệt là Chính phủ đã kích hoạt phương án phòng dịch bệnh tại Việt Nam. Cac kịch bản được đưa ra để phòng ngừa tất cả các tình huống xảy ra. Phó Thủ tướng Vũ Đức Dam là trưởng Ban phòng chống dịch COVID-19 thời điểm đó đã khang định dịch Covid có thê lây lan toàn cầu và Việt Nam có day đủ các yêu tô dé bị lây lan’. Tiếp sau đó, ngày 30/01/2020, WHO tuyên bồ sự bùng phát Covid-19 ở Trung Quốc là “Tinh trang khẩn cấp về sức khỏe cộng đông được quốc té quan tâm, gây nguy cơ cao cho các quốc gia có hệ thống y tế dé bị ton throng” (WHO, 2020).
Dén ngày 11/03/2020, WHO đã chính thức công bố Covid-19 là đại dịch toàn cầu. Tỷ lệ mắc Covid-19 gia tăng bat chấp các nỗ lực ngăn chặn dịch bệnh nghiêm ngặt trên toàn cầu. Tính đến ngày 26/08/2021, toàn cầu ghi nhận 214.447 ca nhiễm Covid-19, trong đó có 4.693 trường hợp tử vong”. Vì thế hệ thống chính trị, chính quyền và toàn dân cần phải xác định tâm thế phòng dịch và chống dịch.
Từ ngày 25/7/2020 đến ngày 01/12/2020, diễn ra cao điểm nhất trong 36 ngày tại Da Nẵng, ca bệnh điểm là 1 bệnh nhân của Bệnh viện C Đà Nẵng. Lúc này toàn bộ hệ thống chính trị cùng với chính quyền thành phố Đà Nang day cao chiến dịch phòng và chống Covid ở mức độ quyết liệt hơn. Phương án cho việc phòng, chống dịch lúc này vẫn là truy vết, cách ly tập trung và phong tỏa. Sau gần 5 tháng, dịch Covid tại Đà Nẵng đã được khống chế.
Nguyễn Thi Thủy (2021), Trách nhiệm của hệ thống chính trị Việt Nam trong phòng, chống dịch Covid 19”, ? Theo trang thống kê Worldometers — https://www.info/coronavirus/ 8 Tính đến 18h00” ngày 25/08/2021, cả nước có 381.363 ca nhiễm, đứng thứ 66/222 quốc gia va vùng lãnh thỏ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm /1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 168/222 quốc gia và vùng lãnh thổ, bình quân cứ 1 triệu dân có 3. Biến thé Delta đang khiến số ca nhiễm mới hàng ngày trên thế giới tăng mạnh và Việt Nam đang phải gánh chịu làn sóng đại dịch Covid-19 lần thứ tư, lan ra 62/63 tỉnh, thành phố; cả nước ghi nhận 81.678 ca tính đến ngày 23/07/2021, trong đó có 2.141 ca nhập cảnh và 370 trường hợp tử vong'. Tình hình dịch bệnh diễn ra phức tap, ngày càng trở nên khó lường, công tác phòng, chong dịch gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người dân và hoạt động quản lý của nhà nước. Theo thống kê tại “Số liệu Covid-19 tại Việt Nam” cùa VnExpress, tổng số ca nhiễm trong nước kế từ ngày 27/04/2021 đến nay lên đến 3.
Trong số này, có 64.285 ca cộng đồng, 34.579 ca được phát hiện ở khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa. Cùng ngày 26/02/2022, Bộ Y tế công bố 20.427 người khỏi bệnh và 88 ca tử vong. Ké từ khi dich bùng phát từ đầu 2020 đến nay, Việt Nam đã ghi nhận 3.046 người khỏi bệnh, 745.997 bệnh nhân đang điều trị và 40.053 ca tử vong. Tính trong vòng 01 tuần trở lại đây, tổng số ca nhiễm trên cả nước tăng 214.151, tức là tăng 88% so với cùng kỳ.
Tổng bệnh nhân tử vong tăng 66 (12%), số người khỏi bệnh tăng 58. Nhìn chung, Covid-19 không loại trừ một quốc gia nào, khiến cho thế giới bi đảo lộn. Tình hình đó cũng khiến các nhà hoạch định chính sách phải đưa ra những quyết sách mang tính quyết định, nhanh chóng, kịp thời. Trong tinh trạng khan cấp về y tế như Covid-19, nhà nước đứng trước một thách thức lớn là buộc phải nhanh chóng, kịp thời kiểm soát sự lây lan và ảnh hưởng của dịch bệnh.
Đề đáp ứng yêu cầu kiểm soát cũng như phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả, công cụ mang tính hiệu lực và hiệu quả nhất cho quản lý của nhà nước trong thời điểm này chính là văn bản pháp luật và văn bản hành chính được ban hành. Khái niệm ban hành văn bản trong bối cảnh đại dịch Covid-19 1. Định nghĩa các loại văn bản 3 Biểu đồ, số liệu tại trang tin của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế: https://vncdc.vn/ , phu luc 03 * CP, Tờ trình số 262/TTr-CP ngày 24/07/2021 tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV về việc dé xuất một số biện pháp phòng, chống dịch bệnh Covid-19 đưa vào Nghị quyết kỳ họp của QH. ° Số liệu Covid-19 tại Việt Nam, 'VnEpress.
9 Thực tế, công tác soạn thảo, ban hành và quản lý van ban có vi trí quan trọng, diễn ra thường xuyên trong hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các chủ thể ban hành văn bản để thực hiện hoạt động quản lý hiệu quả. Vì văn bản là phương tiện ghi lại và truyền đạt các quyết định quản lý hình thành trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thâm quyền cũng như các tổ chức khác nên nó luôn thé hiện tính pháp lý, tinh mệnh lệnh, quan lý điều hành. Dưới góc độ khoa học, theo nghĩa rộng: “văn bản là vật mang tin được ghi bang ký hiệu ngôn ngữ nhất định” hay “văn bản là phương tiện dé ghi và truyền dat thông tin dưới một dạng ngôn ngữ viết hay ký tự nhất định ”.° Theo nghĩa hẹp, “văn bản được hiểu là các tài liệu, giấy tờ, hồ sơ được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cơ quan, tô chức như nghị định, thông tư, nghị quyết, quyết định, công văn, tờ trình, nội quy, quy chế.”” Như vậy, theo nghĩa hep, sản pham của hoạt động quản lý là văn ban quản lý.
Trong khái niệm văn bản quản lý, có thể chia sẻ theo tính chất quyền lực nhà nước bao gồm hai nhóm: văn bản pháp luật và văn bản hành chính thông dụng”. Trong phạm vi nghiên cứu, dé tài này tiếp cận ban hành văn bản trong đại dịch Covid — 19 với cả hai nhóm là văn bản pháp luật và văn bản hành chính thông dụng nhưng do Nhà nước ban hành. Khái niệm, đặc điểm và phân loại văn bản pháp luật Trong khoa học pháp lý hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về văn bản pháp luật. Quan điểm thứ nhất cho rang, văn bản pháp luật là hình thức thé hiện ý chí của chủ thể có thâm quyên, thê hiện dưới dạng ngôn ngữ viết, được ban hành theo hình thức, thủ tục do pháp luật quy định nhăm đạt được mục tiêu quản lý đã đặt ra.
Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật của Truong Dai học Luật Ha Nội định nghĩa: “Văn bản pháp luật là hình thức thể hiện ý chi của Nhà nước, được ban hành theo hình thức, thủ tục do pháp luật quy định, luôn mang tính bắt buộc và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước. ”° ° Tạ Thị Thanh Tâm, Giáo trình môn Kỹ thuật xây dựng văn bản và ban hành văn bản quản lý hành chính nhà nước, Nxb Hành chính năm 2006. 7 Lé Văn In, Giáo trình văn bản quản lý nhà nước và kỹ thuật soạn thảo văn bản, Nxb Đại học quốc gia thành phó Hồ Chí minh 2009. 5 Trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Kĩ năng soạn thảo văn bản hành chính thông dụng, Nxb Tư pháp, 2017.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2018. 10 Xét về đặc điểm của văn bản pháp luật, có 05 đặc điểm sau đây: Thứ nhất, văn bản pháp luật được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyên. Đây được coi là dấu hiệu đầu tiên dùng để phân biệt giữa văn bản pháp luật với văn bản do các tô chức khác ban hành như văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,. Tùy theo mỗi nhóm văn bản pháp luật khác nhau mà pháp luật trao quyền ban hành cho những cơ quan nhà nước và người có thâm quyền khác nhau.
Đối với văn bản quy phạm pháp luật, chỉ những chủ thể được quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 mới có thâm quyền ban hành. Còn với những văn bản còn lại, số lượng các chủ thé có thâm quyền ban hành nhiều hơn văn bản quy phạm pháp luật nhưng vẫn chịu sự ràng buộc của quy định pháp luật. Trên bình diện chung nhất, văn bản pháp luật được ban hành bởi cơ quan nhà nước và cá nhân có thâm quyền. Về cơ quan nhà nước, các cơ quan này thường xuyên ban hành văn bản pháp luật dé giải quyết những công việc phat sinh (ban hành quy định pháp luật dé điều chỉnh quan hệ xã hội cơ bản; 6n định tô chức bộ máy, tô chức nhân sự trong nội bộ.
Mọi cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều là co quan có thâm quyền ban hành văn bản pháp luật như: Quốc hội, Uy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước,. Ngoài ra, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, pháp luật còn quy định một số cơ quan nhà nước có thâm quyên phối hợp với co quan nha nước khác hoặc với Doan Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề ban hành văn bản pháp luật liên tịch. Về cá nhân có thẩm quyền, nhóm cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật bao gồm một số thủ trưởng cơ quan nhà nước như Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND.; công chức thi hành công vụ như nhân viên thuế, nhân viên kiểm lâm, thanh tra viên chuyên ngành, cảnh sát.