Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP DỰA TRÊN VẤN ĐỀ 1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 1.1 Trên thế giới Ngay sau khi phương pháp học tập dựa trên vấn đề (PBL) được hình thành từ năm 1980, rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về PBL với nhiều khía cạnh khác nhau. Những nghiên cứu này có thể được phân chia và mô tả một cách khái quát theo các giai đoạn như sau: 1.1 Các nghiên cứu trong thập niên 1990. Các nghiên cứu trong giai đoạn này chứng tỏ rằng không chỉ sinh viên mà trường học cũng rất hài lòng với phương pháp PBL. Những nghiên cứu trong giai đoạn này đã chứng tỏ PBL kích thích sinh viên xây dựng, hợp tác và tự điều chỉnh trong học tập.
Nói chung, những nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu góp phần cũng cố cơ sở lý thuyết cho phương pháp PBL.2 Các nghiên cứu từ năm 2000. Các nghiên cứu từ năm 2000 tập trung vào việc so sánh chương trình học truyền thống và chương trình học ứng dụng phương pháp PBL. Ngoài ra những nghiên cứu trong giai đoạn này cũng tìm hiểu về hiệu quả của PBL. Tuy nhiên, điều mà các nghiên cứu trong giai đoạn này không làm được đó là việc lý giải tại sao PBL lại hiệu quả hoặc không hiệu quả trong những hoàn cảnh nhất định.3 Những nội dung đáng quan tâm cho những nghiên cứu trong tương lai.
Những nghiên cứu trong tương lai cần mang lại những hiểu biết sâu hơn về PBL. Đó là những lý thuyết và nội dung của PBL khi nào thì sẽ ứng dụng được trong thực tế [19].2 Tại Việt Nam. PBL bắt đầu được chính thức sử dụng trong khối các trường đại học Y Khoa Việt Nam từ năm 2004 do khoa Y Tế Công Cộng (Đại học Y Hà Nội) áp dụng. Sau đó, 7 Luan van vào ngày 25/12/2008, tại “Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về phương pháp học tập dựa trên vấn đề” diễn ra ở Hà Nội trong khuôn khổ Dự án “Chương trình nâng cao nguồn nhân lực y tế” thuộc Vụ Khoa Học và Đào Tạo (Bộ Y Tế), hai trường đại học là Đại Học Y Tế Công Cộng và Đại Học Y Hà Nội đã có báo cáo đánh giá việc áp dụng thí điểm phương pháp học tập dựa trên vấn đề của trường [8].
Theo như báo cáo này, đa số giảng viên và sinh viên của trường cho rằng việc áp dụng phương pháp này phù hợp với 6 môn học được lựa chọn và PBL làm cho người học tích cực, hứng thú và chủ động hơn so với phương pháp giảng dạy truyền thống. Tác giả Nguyễn Danh Đức [26] đã mang lại một tín hiệu vui cho những người muốn đưa phương pháp PBL vào áp dụng bằng kết quả nghiên cứu của mình vào năm 2009. Trong nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Danh Đức dựa trên kết quả khảo sát đã khẳng định rằng phần lớn giảng viên và học sinh Việt Nam sẵn sàng chấp nhận dạy và học bằng phương pháp PBL mặc dù họ phải đối mặt với nhiều khó khăn. Tiếp theo, tại hội thảo khoa học quốc tế: “Nhận thức về nhu cầu bảo vệ môi trường: Vai trò của giáo dục đại học” trong hai ngày 21 và 23/07/2010 tại TP.HCM và An Giang do Trường Đại Học Hoa Sen, phối hợp với Đại Học An Giang tổ chức, tác giả Vũ Hải Yến [11] trong tham luận của mình đã khẳng định rằng việc áp dụng phương pháp PBL đã giúp cho sinh viên biết cách tổ chức việc học của mình tốt hơn, chủ động hơn trong tìm kiếm tài liệu để nghiên cứu và thảo luận hiệu quả hơn.
Ngay tại Đại Học Y Dược TP.HCM, tác giả Võ Minh Tuấn và cộng sự [10] vào năm 2010 bằng nghiên cứu của mình đã kết luận rằng: phương pháp PBL có tác động tích cực lên việc học của sinh viên. Cụ thể, phương pháp này mang lại kết quả học tập cao hơn cho sinh viên Y4 trên môn học lý thuyết lâm sàng. Qua đó tác giả cũng đề nghị nhân rộng việc áp dụng phương pháp PBL cho các bộ môn lâm sàng trong toàn trường. Tóm lại, tại Việt Nam phương pháp PBL tuy chưa phổ biến nhưng cũng đã được một số trường đại học lớn đưa vào áp dụng trong giảng dạy và cũng có những công trình nghiên cứu về phương pháp này.
Các nghiên cứu đã công bố hầu hết là nghiên 8 Luan van cứu về ứng dụng PBL cho việc dạy và học một số môn học cũng như là đánh giá hiệu quả của phương pháp PBL trong những môi trường, hoàn cảnh cụ thể.2 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 1.1 Áp dụng Theo từ điển Tiếng Việt [[4] thì “áp dụng” có nghĩa là dùng trong thực tế điều đã nhận thức được. Trong giới hạn của đề tài thì định nghĩa nêu trên là hoàn toàn phù hợp. Trong khuôn khổ của việc sử dụng phương pháp PBL, một vấn đề (problem) được hiểu là một nhiệm vụ (task) hay một tình huống (case). Thông thường, những vấn đề sử dụng trong phương pháp PBL là những sự mô tả lại các hiện tượng, sự kiện nào đó.
Các hiện tượng, sự kiện này có thể thuộc về lĩnh vực sinh lý học, sinh học, tâm lý học hay xã hội học, v.v và đều chứa đựng những điều cần người học lý giải [18]. Trong giới hạn của đề tài này, “vấn đề” được hiểu chính xác như cách hiểu trong khuôn khổ của việc sử dụng phương pháp PBL. Các sự kiện sử dụng trong các vấn đề ở đây liên quan đến lĩnh vực gây mê hồi sức.3 Học tập dựa trên vấn đề (Problem Based Learning) Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của phương pháp PBL, nhiều định nghĩa về phương pháp này đã được đưa ra. Đầu tiên phải kể đến định nghĩa của Howard Barrows, người đầu tiên nghiên cứu về PBL tại đại học McMaster, Canada và cũng là người đóng góp rất nhiều công sức cho sự phát triển phương pháp này.
Theo Barrows thì PBL là một phương pháp mà trong đó: học sinh được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình học tập, việc học diễn ra trong các nhóm nhỏ, giáo viên đóng vai trò là người hỗ trợ cho quá trình học tập của học sinh và thiết kế cụ thể cho các buổi học sẽ rất khác nhau tùy thuộc vào cơ sở giáo dục đang áp dụng phương pháp này [15]. Tác giả Gijselaers thì định nghĩa phương pháp PBL trong mối liên hệ 9 Luan van với các nguyên lý của lý thuyết học tập. Theo tác giả này, việc học trong phương pháp PBL chính là việc xây dựng nên kiến thức cho người học [20]. Với tác giả Savin-Baden thì phương pháp PBL có 5 mô hình cụ thể ứng với 5 mục tiêu của PBL.
5 mô hình đó là: PBL cho việc đạt được kiến thức, PBL cho môi trường làm việc chuyên nghiệp, PBL cho việc tìm hiểu môn học cụ thể, PBL cho việc học các liên môn học và PBL cho việc phát triển các kỹ năng cần thiết [30]. Rõ ràng trong các định nghĩa khác nhau về phương pháp PBL, có thể thấy rằng phương pháp này được hiểu ở 3 mức độ. Ở mức độ cao nhất, PBL được hiểu như là một triết lý học tập. Ở mức độ thứ hai, PBL được hiểu như là một mô hình cụ thể dựa trên triết lý PBL.
Cuối cùng, ở mức độ thấp nhất, PBL có thể được hiểu là những hình thức thực hành khác nhau trong khuôn khổ của những mô hình giáo dục truyền thống [21] Về tên gọi, phương pháp Problem Based Learning khi sử dụng tại Việt Nam được một số tác giả gọi tên là “phương pháp dạy học giải quyết vấn đề” trong khi một số khác lại gọi tên là “phương pháp học tập dựa trên vấn đề”. Trong giới hạn đề tài, tác giả đã sử dụng một mô hình thực hiện cụ thể của phương pháp PBL, đó là mô hình 7 bước (the seven-step approach) của đại học Maastricht, Hà Lan và gọi tên tiếng Việt được tác giả lựa chọn cho phương pháp PBL là “phương pháp học tập dựa trên vấn đề”. Cách gọi “học tập” được chọn thay vì “dạy học” chỉ với mục đích là nhấn mạnh đến vai trò chủ động, vị trí trung tâm của học sinh trong quá trình học tập. Do đó, dù cho tên gọi “phương pháp học tập dựa trên vấn đề” được sử dụng thay cho “phương pháp dạy học giải quyết vấn đề” thì cách hiểu về phương pháp này hoàn toàn không thay đổi.4 Tự điều chỉnh việc học (self-directed learning) Trong các tài liệu về phương pháp học tập dựa trên vấn đề (PBL) thì khái niệm “tự điều chỉnh việc học” (self-directed learning) dùng để chỉ sự sẵn sàng tham gia vào các hoạt động học tập của học sinh một cách tự giác thay vì bị giáo viên thôi thúc [32].
Định nghĩa này bao hàm cả nhân tố động lực và nhân tố ý chí của việc 10 Luan van sẵn sàng tham gia vào các hoạt động học tập cũng như khả năng để thực hiện việc đó [24]. Ngoài ra, tác giả Candy – người chuyên nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục dành cho người lớn và cũng thường sử dụng khái niệm “tự điều chỉnh việc học” (self- directed learning) trong các nghiên cứu của mình đã chỉ rõ 4 khía cạnh của tự điều chỉnh việc học, đó là: sự tự giác, sự tự quản lý việc học, sự theo đuổi việc học một cách tự do và sự kiểm soát của người học về việc dạy học của giáo viên [17]. Trong giới hạn của đề tài, khái niệm “tự điều chỉnh việc học” được diễn tả một cách cụ thể bằng các hoạt động như: việc học sinh tự giác học tập ngoài giờ học tập trên lớp và chủ động tìm đến các nguồn tài liệu tham khảo phù hợp cho nội dung học tập của mình. Bên cạnh đó, “tự điều chỉnh việc học” trong trường hợp này còn thể hiện qua việc học sinh cùng với nhóm học của mình tự lựa chọn cách thức tìm hiểu vấn đề và học tập qua từng buổi học chứ không phải chịu sự áp đặt từ giáo viên.
Sau cùng, “tự điều chỉnh việc học” được thể hiện rất rõ ràng bằng việc học sinh tự xây dựng nên mục tiêu học tập cho mình chứ không phải chấp nhận một cách thụ động mục tiêu học tập đã có sẵn của giáo viên. Trong giáo dục y học, phản hồi (feedback) được hiểu là một thông tin cụ thể cung cấp cho người học sau khi quan sát và so sánh sự thể hiện của người học so với một tiêu chuẩn nhất định nào đó nhằm giúp người học cải thiện sự thể hiện của mình [34].