Phần mở đầu, kết luận, Báo cáo tổng thuật kết quả nghiên cứu đề tài bao gồm 3 phan nội dung sau: - Phan 1: Những van dé chung về nghiên cứu so sánh pháp luật PCTN của một số quốc gia Châu Á trong bối cảnh sửa đổi Luật PCTN của Việt Nam - Phan 2: So sánh những chế định cơ bản về phòng ngừa và xử lý tham nhũng trong pháp luật của một số quốc gia Châu Á - Phan 3: Những đề xuất đối với việc sửa đối, bố sung Luật PCTN của Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu so sánh PHAN KET QUÁ NGHIÊN CỨU DE TÀI Đề tài “nghiên cứu so sánh pháp luật PCTN của một số quốc gia Châu A trong bối cảnh sửa đổi Luật PCTN của Việt Nam” được triển khai nghiên cứu với sáu chuyên dé cụ thể, bao gồm một chuyên đề mang tính lý luận về nghiên cứu so sánh luật trong bối cảnh của dé tài, năm chuyên dé nghiên cứu so sánh các nội dung dang được đặt trọng tâm trong lần sửa đổi, bổ sung Luật này (gồm cả hai mảng phòng ngừa và xử lý tham nhũng). Các chuyên đề nghiên cứu đã phân tích và làm rõ ý nghĩa và yêu cầu của việc nghiên cứu so sánh pháp luật PCTN một số quốc gia Chau A trong bối cảnh sửa đổi Luật PCTN Việt Nam 2005, những nội dung trọng tâm của việc sửa đôi, bô sung kết hợp với đánh giá các giải pháp pháp luật đã được nhiều quốc gia Châu A lựa chọn dé giải quyết cùng van dé. Kết quả cuối cùng của dé tài thé hiện bằng những đề xuất sửa đổi, bô sung Luật PCTN Việt Nam trên cơ sở rút kinh nghiệm các giải pháp pháp luật của các nước Châu Á đã nghiên cứu so sánh, đặc biệt là trong sự gắn kết với Dự thảo Luật PCTN sửa đổi. Các van đề nghiên cứu của đề tài được khái quát như sau: I.
NHUNG VAN DE CHUNG VE NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT PHONG, CHONG THAM NHUNG CUA MOT SO QUOC GIA CHAU A TRONG BOI CANH LUAT PHONG, CHONG THAM NHUNG CUA VIET NAM 1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu so sánh pháp luật phòng, chống tham nhũng của một số nước Chau A trong bối cảnh sửa déi Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam Luật PCTN của Việt Nam 2005 đang được sửa đôi, bố sung toàn diện. Thực tiễn dau tranh chống tham nhũng ở Việt Nam cho thấy việc áp dụng Luật PCTN (Luật PCTN) còn chưa hiệu quả và còn nhiều hạn chế, vướng mắc. Luật PCTN của Việt Nam còn bị đánh giá là nặng tính hình thức, chủ yếu là những chế định mang tính hành chính, những quy định về phòng ngừa tham nhũng chưa cụ thể và khả thi, tính cưỡng chế chưa cao, chưa tạo được nhiều cơ chế đấu tranh chống tham nhũng hiệu quả (đặc biệt là cơ chế bảo đảm trách nhiệm và sự hợp tác của các cơ quan tham gia vào công tác PCTN), chưa có quy định về PCTN ở khu vực ngoài nhà nước dé bảo đảm sự bình dang và tính đồng bộ 10 trong PCTN, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế ở nhiều khía cạnh.” Như vậy, việc rà soát những quy định của Luật cần được thực hiện trên cơ sở đánh giá những khiếm khuyết nội tại của Luật, chỉ ra những hạn chế trong thực tiễn áp dụng luật, đánh giá tính tương thích của Luật so với UNCAC mà Việt Nam là quốc gia thành viên, đồng thời so sánh với quy định của pháp luật PCTN của các quốc gia khác, trong đó có một số quốc gia Châu Á có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước hoặc điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa như Trung Quốc (trong đó có Hồng Kông), Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Indonesia, Phillipines.Những yêu cầu trên đặt ra nhu cầu nghiên cứu so sánh pháp luật về PCTN của một số quốc gia Châu Á.
Kết quả nghiên cứu so sánh này có thể trở thành một trong những cơ sở thực tiễn cho việc sửa đôi Luật PCTN. Những vấn đề về phương pháp nghiên cứu so sánh luật trong bối cảnh của đề tài Đề thực hiện việc nghiên cứu so sánh pháp luật PCTN của một số quốc gia Châu Á đặt trong bối cảnh sửa đôi, bố sung Luật PCTN của Việt Nam một cách có trọng tâm va hiệu quả, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu so sánh luật đặt trong mối liên hệ với nội dung và phạm vi của dé tai can được giải quyết đầu tiên. Những van đề về phương pháp nghiên cứu so sánh pháp luật PCTN của các quốc gia bao gồm cấp độ nghiên cứu so sánh, cách thức nghiên cứu so sánh, tiêu chí so sánh, yêu cầu về lựa chọn hệ thống pháp luật để so sánh, nội dung cần nghiên cứu so sánh. Trước hết, vì việc nghiên cứu này nhằm mục dich đưa ra những đề xuất sửa đôi, bố sung các quy định của Luật PCTN Việt Nam nên có thé thay cấp độ nghiên cứu so sánh là cấp độ vi mô, đó là cấp độ so sánh các quy phạm, chế định pháp luật PCTN có chức năng tương đương.
Cụ thé nghiên cứu so sánh này tìm hiểu các chế định pháp luật ở những quốc gia khác nhau cùng có chức năng điều chỉnh các vấn đề về phòng ngừa và xử lý tham nhũng. Trên cơ sở nguyên tắc so sánh chức năng, nguyên tắc cơ bản nhât về mặt ? Xem: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN của Chính phủ tháng 7/2016. 11 phương pháp luận của luật so sánh,” việc so sánh các chế định, các quy phạm pháp luật có cùng chức năng điều chỉnh các vấn đề về PCTN không tập trung vào cấu trúc của điều luật hay ngôn ngữ văn bản mà tập trung vào các giải pháp pháp luật được sử dụng trong các nhà nước khác nhau để giải quyết cùng vẫn đề phòng ngừa và xử lý tham nhũng. Về mặt cách thức, việc nghiên cứu so sánh có thé được tiến hành trên cơ sở tìm hiểu, rà soát, tong hợp các quy định của pháp luật PCTN của từng quốc gia được lựa chọn nghiên cứu, sau đó đưa ra những đánh giá, kết luận so sánh về từng vấn đề trong pháp luật mỗi quốc gia đó và pháp luật PCTN của Việt Nam.
Tuy nhiên, cách so sánh này đi cùng với yêu cầu về việc nghiên cứu một cách đầy đủ các chế định về PCTN khác nhau trong luật của mỗi quốc gia có thê dẫn đến có sự lặp lại nội dung trong từng chuyên đề nghiên cứu. Do đó, nghiên cứu so sánh pháp luật PCTN của các quốc gia theo chủ dé, theo van dé là cách hap dẫn hơn. Những van dé tiếp theo liên quan đến các bước dé thực hiện nghiên cứu so sánh luật.” Các bước đó có thé được khái quát bao gồm: (1) Xác định chế định, quy phạm pháp luật về PCTN cần so sánh và xây dựng giả thuyết để nghiên cứu so sánh; (2) Lựa chọn hệ thống pháp luật phù hợp của các quốc gia Châu Á có những điểm tương đồng về quan điểm PCTN hoặc bối cảnh PCTN hoặc cơ chế PCTN dé so sánh; (3) Mô tả các giải pháp pháp luật về PCTN của các hệ thống pháp luật được lựa chọn về van đề nghiên cứu so sánh; (4) Xác định những điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về PCTN giữa các hệ thống pháp luật trên cơ sở hệ thống tiêu chí so sánh; (5) Giải thích nguồn gốc của những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật về PCTN giữa các hệ thống pháp luật, đồng thời phân tích đánh giá ưu điểm và hạn chế của các giải pháp pháp luật về PCTN của các hệ thống pháp luật được so sánh. 3 Về van đề phương pháp chức năng của luật so sánh và chức năng tương đương của các chế định hoặc các quy phạm pháp luật ở các hệ thống pháp luật khác nhau, xem: Ralfs Micheals, The Functional Method of Comparative Law, trong sách “The Oxford Handbook of Comparative Law”, Reimann, Mathias, Zimmermann va Reinhard (chủ biên), Oxford University Press, 2006.
* Về các bước dé thực hiện một công trình so sánh luật, xem: Đại hoc Luật Ha Nội, Giáo trình Luật so sánh, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội — 2015, tr. Những vấn đề của pháp luật phòng, chống tham nhũng cần nghiên cứu so sánh trong bối cảnh sửa doi Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam Trên cơ sở các van dé được nêu ra trong Tờ trình Chính phủ về Dự án Luật PCTN sửa đôi, có thé xác định những nội dung trọng tâm sau cần được nghiên cứu so sánh với pháp luật PCTN của một số nước Chau A dé tham khảo và hoc tập kinh nghiệm: Nội dung đầu tiên là quy định về biện pháp mình bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập trong PCTN. Biện pháp minh bạch và kim soát tài sản, thu nhập được coi là công cụ hữu hiệu cho cả công tác phòng ngừa và xử lý tham những.
Quy định về biện pháp này trong Luật PCTN 2005 còn đang bị đánh giá là nặng tính hình thức hoặc thiếu rõ ràng, ví dụ quy định về đối tượng kê khai, về nghĩa vụ kê khai, về cách thức kê khai và cơ quan quản lý bản kê khai tài sản, thu nhập, về thâm quyền xác minh tài sản, thu nhập, việc xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai ít được thực hiện do việc quản lý bản kê khai lại do chính cơ quan đơn vi/ bộ phận phụ trách công tác tô chức nhân sự của cơ quan, tô chức nơi người kê khai công tác chịu trách nhiệm (thiếu tính khách quan, độc lập, tập trung)." Bên cạnh đó, các biện pháp được quy định này cũng chưa bắt kịp với những biện pháp hiệu quả của nhiều quốc gia trên thế giới về kiểm soát tài sản, thu nhập của công chức. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật PCTN đã dành một chương riêng với nhiều quy định mới, thực chất nhằm kiểm soát được tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức và những người có chức vụ, quyền hạn khác. Tuy nhiên, những quy định mới nay có thực sự khắc phục được những hạn chế của luật hiện hành, đồng thời phù hợp với xu thế quốc tế hay không sẽ được đánh giá phần nào qua nghiên cứu so sánh với chế định kiểm soát tài sản, thu nhập trong pháp luật của một số quốc gia châu Á. Nội dung trọng tâm thứ hai của Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung là van dé kiểm soát xung đột lợi ích.
Khái niệm xung đột lợi ích và việc kiểm soát xung đột lợi ích còn khá mới mẻ ở Việt Nam.