CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm phân loại, hình thái giải phẩu 1. Hệ thống phân loại Loài Scylla serrata phân bố ở Việt Nam được gọi theo nhiều tên: cua xanh, cua bùn, cua sú.
Theo khóa phân loại của Forsskal, 1775 loài Scylla serrata có hệ thống phân loại như sau: Ngành: Arthropoda Lớp: Crustacea Bộ: Decapoda Họ: Portunidae Giống: Scylla Loài: Scylla serrata Tên tiếng Anh: mud- crab, green crab, mangrove crab 1. Hình thái giải phẩu Loài cua xanh có kích thước tương đối lớn, có thể đạt trọng lượng 2kg. Cua có màu xanh lục hoặc màu vàng sẫm. Mặt bụng thường có màu sáng hơn mặt lưng.
Có thể cua dẹp theo hướng lưng bụng và chia làm 2 phần. Phần đầu ngực lớn nằm trong giáp đầu ngực (mai cua). Phần bụng nhỏ và gập lại dưới giáp đầu ngực (yếm cua) (Đạt 2004) [2] Hình1. Hình thái cấu tạo ngoài cua xanh Scylla serrata PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Phần đầu ngực Phần đầu và phần ngực ở cua dính liền với nhau, ranh giới giữa các đốt không rõ ràng.
Căn cứ vào phần phụ mang trên đó mà biết được số đốt tạo thành. Đầu gồm 5 đốt mang mắt, anten và các phần phụ miệng. Ngực gồm 8 đốt mang các chân hàm và các chân bò. Mặt lưng của đầu ngực được bao bọc trong phần giáp đầu ngực (mai cua).
Mé trước của giáp đầu ngực có hai hố mắt mang, hai mắt nằm trên cuống mắt. Giữa hai hố mắt, mỗi bên mép trước của giáp đầu ngực có 9 gai nằm liên tiếp nhau. Mặt trên của giáp đầu ngực phân chia thành từng vùng nhỏ, ngăn cách bởi rãnh và gờ rõ rệt. Phía trước là vùng tráng, kế tiếp là vùng dạ dày ngăn cách với nhau bởi hai gờ.
Tiếp theo là vùng tim, sau vùng tim đến vùng ruột. Hai bên vùng dạ dày là vùng gan. Ngoài cùng là vùng mang. Mặt bụng của phần đầu ngực có các tấm bụng.
Các tấm bụng làm thành vùng lõm ở giữa chứa phần bụng gập vào. Ở con cái có đôi lỗ sinh dục nằm ở tấm bụng thứ ba được phần bụng gập lại che lấp. Phần bụng Phần phụ gồm bảy đốt gồm các phần phụ bị tiêu giảm nằm gấp lại dưới phần đầu ngực làm cho cua thu ngắn và gọn lại giúp cua bò dễ dàng. Phần bụng của cua đực và cua cái có sai khác.
Ở con cái chưa trưởng thành sinh dục (trước thời kỳ lột xác tiền giao vỹ) phần bụng (yếm cua) hơi vuông (thường gọi là cua yếm vuông hay cua cái so). Sau khi lột xác tiền giao vỹ yếm trở nên tròn, kích thước yếm lớn che phủ phần lớn mặt bụng phần đầu ngực. Phần bụng của cua đực hẹp, ngang hẹp dần về phía sau có hình tam giác và cũng nằm gọn trong phần lõm của các tấm bụng phần đầu ngực. Ở con cái các đốt bụng I, II và VII khớp động với nhau, các đốt bên, các đốt khác bất động, các chân bụng chẽ đôi biến thành các chùm lông yếm để trứng đẻ ra bám vào đó mà phát triển.
Lỗ hậu môn nằm ở cuối cùng. Ở con đực các đốt I, II, V và VI khớp động với các đốt bên. Các chân bụng thoái hóa biến thành đôi gai giao cấu, lỗ hậu môn nằm ở cuối cùng. Các phần phụ Anten I nằm trong rãnh xiên với trán.
Ở đốt gốc anten I có lỗ bình nang. Anten II nằm ở gốc cuống mắt và có hình sợi nhỏ. Ở đốt gốc anten II có lỗ của tuyến anten. Hàm trên là tấm kitin lớn, rất khỏe, bờ trong sắt, không có răng.
Hàm dưới I gồm phần gốc 2 lá, trên đầu 2 lá có nhiều lông. Nhánh trên của phần PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 ngọn dạng bảng mỏng gồm 2 đốt có lông ở cạnh trong. Hàm dưới II gồm phần gốc 2 lá, lá trong hình lưỡi dao, đầu có nhiều lông, lá ngoài hai nhánh đầu loe rộng và có nhiều lông. Chân hàm I gồm phần gốc 2 lá, lá trong nhỏ và trên đầu có nhiều lông cứng, lá ngoài đầu loe rộng và mép ngoài có lông ngắn.
Phần ngọn gồm 2 nhánh, nhánh trong hình lá cờ, mép trong có nhiều lông dài, nhánh ngoài gồm 3 đốt. Ở phần gốc còn có tấm kitin nhỏ hình lá lúa có tơ dài theo hướng phía ngoài và lui về sau gọi là mang khỏa nước. Chân hàm II có nhiều phần gốc nhỏ, phần ngọn 2 nhánh, nhánh trong 5 đốt, mép trong có nhiều lông, nhánh ngoài gồm 3 đốt. Phía ngoài từ phần gốc có mang khớp hình lông chim và ngoài cùng phía dưới có mang khỏa nước.
Chân hàm III đã kitin hóa rất mạnh, gồm phần gốc 2 đốt. Phần ngọn có 2 nhánh. Chân ngực gồm 5 đôi: Đôi thứ nhất phát triển lớn, đầu có kẹp (càng cua). Ở con đực kích thước 2 càng khác nhau rõ rệt, thường càng bên phải lớn hơn càng bên trái.
Càng cua vừa để bắt mồi vừa là cơ quan tự vệ và tấn công kẻ thù lợi hại. Các đôi chân 2, 3, 4 là chân bò có 5 đốt, đốt cuối cùng vuốt nhọn. Đôi chân thứ 5 các đốt có dạng hình bảng biến thành bơi chèo, là động lực chính khi cua bơi. Chân bụng: Ở cua cái có 4 đôi chân bụng, từ đốt bụng thứ nhất đến đốt bụng thứ 4 biến thành cơ quan giữ trứng.
Các chân bụng có cấu tạo giống nhau, gồm 1 đốt gốc và phần ngọn gồm 2 nhánh hình lá lúa mép mỏng có lông dài đủ phủ, nhánh trong phân đốt, nhánh ngoài không phân đốt. Ở cua đực chỉ còn lại đôi chân bụng thứ nhất và thứ 2 biến thành chân giao cấu. Phần gốc gồm 3 đốt, phần ngọn chỉ còn nhánh trong, không phân đốt. Vòng đời của cua xanh Scylla serrata Cua xanh Scylla serrata có vòng đời phức tạp, trải qua nhiều lần lột xác và biến thái từ thời kỳ ấu trùng đến giai đoạn tiền trưởng thành và trưởng thành.
Vòng đời của cua xanh thường được chia làm các giai đoạn: Phôi (Embryo), ấu trùng (Larvae), cua giống (Juvernile) và trưởng thành (Adult). Đa số các loài cua đều trải qua các giai đoạn trên để hoàn tất chu kỳ sống. Theo Ong (1964) ấu trùng cua Xanh trải qua 5 giai đoạn Zoea (Zoea1 đến Zoea 5) với 4 lần lột xác vào khoảng thời gian 17 - 20 ngày và Zoea 5 biến thái PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 thành Megalope khoảng 8 - 11 ngày, sau đó ấu trùng trở thành cua con. Cua con trải qua 16 - 18 lần lột xác trước khi thành thục, thời gian này ít nhất khoảng 338 - 523 ngày.
Trước mùa vụ sinh sản cua di cư ra vùng biển ven bờ lột xác tiền giao vĩ rồi di cư ra biển, trong quá trình di cư trứng sẽ dần dần phát triển đến chín. Cua đẻ trứng và ấp trứng dưới bụng cho đến khi nở ra ấu trùng Zoea1, rồi chúng tiến hành lột xác, sinh trưởng, sinh sản và lập lại vòng đời của chúng [38]. Vòng đời của Cua Xanh Scylla Serrata Giai đoạn phôi (Embryo) Theo sự phát triển của phôi, màu sắc trứng phôi từ màu vàng chuyển sang màu xanh, về sau chuyển thành màu đen. Sau thời gian từ 11- 13 ngày thì ấu trùng nở.
Khi trứng chuyển sang màu xám là lúc bắt đầu xuất hiện mầm chân và mắt. Khi hình thành mắt, tim bắt đầu hoạt động và các cơ quan khác cũng tiếp tục hình thành. Lúc tim đập khoảng 200-240 lần/phút thì ấu trùng phá màng vỏ chui ra ngoài bước vào thời kỳ ấu trùng Zoea. Gặp điều kiện thuận lợi cua ấp trứng tốt, phôi phát triển đồng đều thì ấu trùng nở ra đồng loạt, thường khoảng 3- 6h ấu trùng nở xong.
Giai đoạn Zoea(Larvae) Ấu trùng vừa mới nở ra có màu đen (đôi mắt kép to có nhiều sắc tố đen) làm cho người quan sát cảm thấy ấu trùng có màu đen bơi lội trong tầng nước, giữa và trên tầng mặt. Ấu trùng sống phù du có đặc tính hướng quang mạnh hoạt PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 động nhờ chân hàm và sự co giãn của phần bụng. Nhiệt độ thích hợp để sinh trưởng lột xác và phát triển khoảng 26-30oC (trung bình 28oC), độ mặn 28-31‰ (trung bình 30‰), pH là 7,5-8,5. Sau 16-18 ngày ấu trùng Zoea trải qua 5 lần lột xác đã thành ấu trùng Megalope.
Thức ăn của ấu trùng Zoea là tảo: Chaetoceros và Sketonema costatum, luân trùng (loài luân trùng nước lợ: Branchionus plicatilis), ấu trùng Nauplius của Artemia. Trong ương ấu trùng có thể sử dụng tảo bột Spirulina, thức ăn tổng hợp dạng vi nang. Giai đoạn Megalope(Larvae) Sau lần lột xác thứ 5 ấu trùng Zoea biến thái thành ấu trùng Megalope. Ấu trùng Megalope có đôi mắt kép to, cùng 5 đôi chân ngực: đôi thứ nhất to phát triển thành càng, 4 đôi sau biến thành chân bò.
Phần bụng dài và hẹp có 7 đốt đuôi, đuôi không chẻ đôi, có 4 đôi chân bụng dạng mái chèo để bơi lội, đôi thứ 5 nhỏ liền với đuôi nên gọi là chân đuôi. Megalope sống trôi nổi và nhờ dòng nước đưa vào ven bờ. Megalope lột xác chuyển thành cua bột 1 sau 8-10 ngày. Megalope bơi lội nhanh nhẹn, có khả năng bò trên nền đáy hoặc bám vào giá thể có trong nước.
Megalope bắt mồi tích cực, thức ăn của chúng là Artemia, thức ăn chế biến gồm thịt nghiền, tôm xay nhuyễn. Giai đoạn cua giống (Juvernile) Cua giống vừa lột xác từ Megalope có vỏ mềm nằm ở đáy, sau 2 giờ vỏ cứng và bắt đầu bò bơi lội trong nước. Khi mới lột xác có chiều rộng mai dao động từ 2,5-3mm. Các phần phụ đầu ngực phân ra đầy đủ, bụng thu nhỏ lại và gập vào phần ngực (yếm cua).
Cua bắt đầu sống bò trên đáy và đào hang hay chui vào gốc cây bụi rậm, đồng chuyển từ đời sống trong môi trường nước mặn sang nước lợ ở rừng ngập mặn hay cửa sông. Thức ăn của nó bao gồm: thịt cá, tôm, nghêu, thực vật thủy sinh, mảnh vụn hữu cơ, động vật nhỏ, râu ngành, động vật thân mềm. Cua bột 3 ngày tuổi lột xác lần thứ nhất và chiều rộng mai đạt 5mm, chiều dài 3,5mm. Cua giống có cấu tạo cơ thể hoàn chỉnh, phân biệt được đực cái, có sức sống cao, bò nhanh, đào hang, bơi lội nhanh, kiếm ăn tích cực khả năng tự vệ cao.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Giai đoạn cua trưởng thành (Adult) Cua trưởng thành sống ở vùng nước lợ ven biển như rừng ngập mặn, cửa sông, đầm phá…. và ngay cả thủy vực nước ngọt ven cửa sông. Khi đến tuổi thành thục chúng di cư ra vùng nước mặn để sinh sản.