Nghiên Cứu Xác Định Sinh Khối Quang Hợp Cho Rừng Tự Nhiên Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Copia

Tài liệu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu xác định sinh khối quang hợp cho rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại khu bảo, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Lâm Nghiệp

2015

97
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Trên Thế giới

2.2. Ở Việt Nam

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

DANH MỤC TÊN KHOA HỌC CÁC LOÀI CÂY DÙNG TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Sinh Khối Quang Hợp Rừng Copia Giới Thiệu

Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống trên Trái Đất, cung cấp gỗ, điều hòa khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học. Ở khu vực Tây Bắc, nơi điều kiện kinh tế còn khó khăn, rừng là nguồn sống quan trọng. Tuy nhiên, khai thác quá mức và các hoạt động đốt nương làm rẫy đang đe dọa sự tồn tại của rừng, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Trong bối cảnh đó, các chương trình bảo vệ và phát triển rừng đã góp phần phục hồi diện tích rừng tự nhiên. Nghiên cứu về sinh khối và khả năng hấp thụ Carbon trở nên cấp thiết để định giá rừng một cách toàn diện, không chỉ về giá trị sử dụng trực tiếp mà còn về giá trị môi trường như bảo tồn đa dạng sinh học và hấp thụ Carbon. Việc định lượng khả năng hấp thụ Carbon sẽ khuyến khích các chủ rừng tham gia vào các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

1.1. Vai trò của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh

Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa khí hậu, bảo tồn nguồn nước và duy trì đa dạng sinh học. Đặc biệt, khả năng hấp thụ CO2 của loại rừng này có ý nghĩa lớn trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu. Việc nghiên cứu sinh khối quang hợp giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tiềm năng hấp thụ carbon của rừng, từ đó có cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách quản lý và bảo tồn hiệu quả. Các nghiên cứu toàn diện về hệ sinh thái rừng rất quan trọng để đánh giá chính xác những đóng góp của rừng vào hệ sinh thái toàn cầu.

1.2. Tầm quan trọng của định giá rừng toàn diện

Việc định giá rừng không chỉ nên dựa trên giá trị kinh tế trực tiếp mà còn cần xem xét giá trị môi trường mà rừng mang lại. Điều này bao gồm khả năng hấp thụ carbon, bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn và tạo cảnh quan. Bằng cách định lượng được những giá trị này, chúng ta có thể tạo ra các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) hiệu quả, khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng. Định giá rừng toàn diện giúp nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của rừng và thúc đẩy các hoạt động quản lý rừng bền vững.

II. Xác Định Thách Thức Nghiên Cứu Sinh Khối Rừng Copia Vấn Đề

Mặc dù tầm quan trọng của việc nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ Carbon đã được công nhận, nhưng các nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam nói chung và vùng Tây Bắc nói riêng còn hạn chế. Mỗi loại rừng, kiểu rừng, trạng thái rừng, loài cây ưu thế, tuổi của lâm phần khác nhau sẽ có sinh khối khác nhau, dẫn đến lượng Carbon hấp thụ khác nhau. Do đó, không thể áp dụng một cơ chế chi trả duy nhất cho mọi trường hợp. Cần có những nghiên cứu cụ thể cho từng loại hình rừng về sinh khối và khả năng hấp thụ Carbon để làm cơ sở lượng hóa những giá trị kinh tế mà rừng mang lại trong việc điều hòa khí hậu và giảm tác hại của hiệu ứng nhà kính. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chi trả dịch vụ môi trường rừng đang được thí điểm tại tỉnh Sơn La.

2.1. Sự thiếu hụt nghiên cứu về sinh khối rừng tự nhiên

Hiện nay, số lượng nghiên cứu về sinh khối rừng tự nhiên tại Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt là ở khu vực Tây Bắc. Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá chính xác tiềm năng hấp thụ carbon của các hệ sinh thái rừng khác nhau. Việc thiếu dữ liệu cụ thể về sinh khối và khả năng hấp thụ carbon cũng cản trở việc xây dựng các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) hiệu quả, phù hợp với từng loại hình rừng. Cần có những đầu tư lớn hơn vào nghiên cứu khoa học để thu thập dữ liệu và xây dựng các mô hình dự báo sinh khối chính xác.

2.2. Yêu cầu về nghiên cứu chi tiết theo từng loại hình rừng

Mỗi loại hình rừng, kiểu rừng, trạng thái rừng, loài cây ưu thế và tuổi của lâm phần đều có sinh khối và khả năng hấp thụ carbon khác nhau. Do đó, cần có các nghiên cứu chi tiết cho từng loại hình rừng cụ thể để đánh giá chính xác tiềm năng hấp thụ carbon và xây dựng các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) phù hợp. Các nghiên cứu này cần bao gồm việc thu thập dữ liệu về sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ carbon.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Sinh Khối Rừng Copia Cách Xác Định

Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định tổng sinh khối quang hợp cho rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại Khu bảo tồn thiên nhiên CoPia. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc khảo sát đặc điểm lâm học của lâm phần, đo đạc tổng lượng sinh khối quang hợp trên mặt đất và dưới mặt đất, xác định sinh khối vật rơi rụng, và đánh giá tăng trưởng sinh khối. Việc thu thập số liệu được thực hiện thông qua các ô tiêu chuẩn và sơ cấp. Số liệu sau đó được xử lý bằng các phương pháp thống kê và phân tích phù hợp để đưa ra các kết luận khoa học. Nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung cơ sở khoa học trong nghiên cứu sinh khối của rừng tự nhiên tại CoPia nói riêng và vùng Tây Bắc nói chung, phục vụ cho việc xác định lượng Carbon cho rừng tự nhiên.

3.1. Thu thập và xử lý số liệu sinh khối trên mặt đất

Việc thu thập số liệu sinh khối trên mặt đất bao gồm việc đo đạc đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao cây, chiều cao dưới cành và đường kính tán. Các số liệu này được sử dụng để tính toán sinh khối của cây thông qua các phương trình hồi quy đã được xây dựng trước đó. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiến hành thu thập và phân tích sinh khối vật rơi rụng để đánh giá lượng vật chất hữu cơ trả lại cho đất. Việc xử lý số liệu được thực hiện bằng các phần mềm thống kê chuyên dụng để đảm bảo tính chính xác và tin cậy.

3.2. Thu thập và phân tích sinh khối dưới mặt đất rễ

Việc thu thập sinh khối dưới mặt đất (rễ) là một công việc phức tạp và tốn nhiều thời gian. Nghiên cứu sử dụng phương pháp đào hố để thu thập rễ lớn và phương pháp lấy mẫu đất bằng ống khoan để thu thập rễ cám. Các mẫu rễ được rửa sạch, sấy khô và cân để xác định sinh khối. Nghiên cứu cũng tiến hành phân tích sự phân bố của rễ theo chiều sâu và theo kích thước để hiểu rõ hơn về cấu trúc rễ của rừng. Các kết quả phân tích sinh khối rễ có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tổng sinh khối quang hợp của rừng.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Sinh Khối Rừng Copia Kết Quả Thực Tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy các đặc điểm lâm học của lâm phần tại Khu bảo tồn thiên nhiên Copia, tổng lượng sinh khối quang hợp trên mặt đất và dưới mặt đất, sinh khối vật rơi rụng và tăng trưởng sinh khối. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin quan trọng về tiềm năng hấp thụ Carbon của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại khu vực này. Những kết quả này có thể được sử dụng để xây dựng các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) hiệu quả hơn, khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời, nghiên cứu cũng là cơ sở khoa học để đánh giá giá trị kinh tế của rừng trong việc điều hòa khí hậu và giảm tác hại của hiệu ứng nhà kính.

4.1. Đánh giá tiềm năng hấp thụ Carbon của rừng Copia

Dựa trên kết quả nghiên cứu sinh khối, có thể ước tính tiềm năng hấp thụ carbon của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại Khu bảo tồn thiên nhiên Copia. Thông tin này rất quan trọng để đánh giá vai trò của rừng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu và xây dựng các chính sách quản lý rừng bền vững. Việc định lượng được lượng carbon mà rừng có thể hấp thụ giúp chúng ta có cơ sở khoa học để tham gia vào các thị trường carbon quốc tế và thu hút đầu tư vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.

4.2. Cơ sở cho việc chi trả dịch vụ môi trường rừng PES

Kết quả nghiên cứu sinh khối cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại Khu bảo tồn thiên nhiên Copia. Bằng cách định lượng được giá trị của rừng trong việc cung cấp các dịch vụ môi trường như hấp thụ carbon, bảo tồn nguồn nước và bảo tồn đa dạng sinh học, chúng ta có thể xây dựng các cơ chế chi trả công bằng và khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng. Các chương trình PES thành công sẽ góp phần cải thiện sinh kế của người dân địa phương và bảo vệ tài nguyên rừng.

V. Nghiên Cứu Sinh Khối Rừng Copia Kết Luận Và Hướng Phát Triển

Nghiên cứu này đã đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về sinh khối và tiềm năng hấp thụ Carbon của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại Khu bảo tồn thiên nhiên Copia. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn trong tương lai. Cần có những nghiên cứu dài hạn để theo dõi sự thay đổi của sinh khối theo thời gian và đánh giá tác động của các yếu tố môi trường đến quá trình hấp thụ Carbon. Ngoài ra, cần nghiên cứu về vai trò của các loài cây khác nhau trong việc tích lũy sinh khối và hấp thụ Carbon. Kết quả của những nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta quản lý và bảo tồn rừng một cách hiệu quả hơn.

5.1. Các hướng nghiên cứu tiếp theo về sinh khối rừng

Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc xây dựng các mô hình dự báo sinh khối chính xác hơn, sử dụng công nghệ viễn thám và GIS để theo dõi sự thay đổi của sinh khối trên diện rộng, và nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến quá trình tích lũy sinh khối của rừng. Ngoài ra, cần có những nghiên cứu liên ngành để đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế - xã hội đến tài nguyên rừng và xây dựng các giải pháp quản lý rừng bền vững.

5.2. Tầm quan trọng của quản lý rừng bền vững

Quản lý rừng bền vững là chìa khóa để bảo vệ tài nguyên rừng và đảm bảo cung cấp các dịch vụ môi trường quan trọng cho xã hội. Quản lý rừng bền vững bao gồm việc bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì năng suất của rừng, và cải thiện sinh kế của cộng đồng địa phương. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, cộng đồng địa phương, các tổ chức phi chính phủ và các nhà khoa học. Quản lý rừng bền vững không chỉ là trách nhiệm của chúng ta đối với thế hệ hiện tại mà còn là trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai.

28/05/2025
Luận văn nghiên cứu xác định sinh khối quang hợp cho rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại khu bảo tồn thiên nhiên copia huyện thuận châu tỉnh sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên Thế giới Tổng sinh khối tích lũy hàng năm của hệ sinh thái rừng (NEP) là thông số quan trọng nhất để đánh giá vai trò của rừng đối với điều tiết CO 2 trong khí quyển, bảo vệ môi trường. Để xác định NEP phụ thuộc vào 4 thông số cần thiết: (i) Tăng trưởng sinh khối hàng năm (sự khác nhau của sinh khối giữa năm sau và năm trước - Bi); (ii) Phần sinh khối chết tích lũy trên và dưới mặt đất hàng năm (D - Dead); (iii) Phần thực vật bị động vật ăn (Ch - Consumed by herbivores) và (iv) Hô hấp của vi sinh vật nhằm phân hủy chất hữu cơ dưới và trên bề mặt đất (Rs - Respiration in soil). Phương pháp tính tổng sinh khối sau quang hợp (NPP) và NEP được mô tả ở Hình 1.

Mô tả phương pháp tính sinh khối sau quang hợp (NPP) và sinh khối dự trữ hàng năm của hệ sinh thái rừng (NEP). Sinh khối trên mặt đất * Sinh khối sống trên mặt đất Tăng tưởng sinh khối phần trên mặt đất đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới ở nhiều hệ sinh thái rừng khác nhau. Các tác giả đều dựa vào mô hình toán học để xây dựng mối tương quan giữa D1.3 và sinh khối Sherman và cs (2003) [49]; Fukushima và cs (2008) [42]), từ cơ sở đó căn cứ vào tăng trưởng hàng năm về D1.3 để xác định tăng trưởng về sinh khối (kg/ha/năm). Phần thực vật bị động vật ăn (Ch) chiếm phần nhỏ so với tổng sinh khối quang hợp của hệ sinh thái, bên cạnh đó việc xác định cũng rất khó khăn do vậy chúng thường bị bỏ qua trong xác định sinh khối tính lũy hàng năm của hệ sinh thái rừng Day và cs (1996) [41]; Amarasinghe và Balasubramaniam (1992) [34]).

* Sinh khối chết trên mặt đất Phần trên mặt đất được các nhà nghiên cứu xác định khá đơn giản bằng phương pháp túi hứng được bố trí dưới tán rừng, Sato và cs (2010) [47] và nhiều nghiên cứu khác. Sinh khối dưới mặt đất * Sinh khối sống dưới mặt đất Việc xác định sinh khối rễ bởi các phương pháp lấy mẫu khác nhau được nhiều tác giả mô tả trong các công trình nghiên cứu của mình (Shurrman và Geodewaaen, 1971; Moore, 1973; Gadow và Hui, 1999; Oliveira và cs 2000; Voronoi, 2001; McKenzie và cs, 2001). Nhiều tác giả khi nghiên cứu sinh khối cho rằng việc thu thập rễ gặp nhiều khó khăn (Grier và cs, 1989; Reichel, 1991; Burton V. Barner và cs, 1998) dẫn theo Vũ Tấn Phương (2012)[23].

Việc xác định tăng trưởng sinh 6 khối hàng năm dưới mặt đất ít được quan tâm và chỉ mới được thực hiện trên một số đối tượng như rừng ngập mặn tự nhiên Komiyama và cs (2008) [39], rừng trồng Bolte và cs (2004) và cũng dựa trên tương quan giữa sinh khối rễ và D1.3 để xác định sự khác nhau về sinh khối rễ giữa các năm thông qua tăng trưởng về D1.3, tuy nhiên quan hệ D1.3/sinh khối rễ đem lại sai số khá cao (40 - 70%), Comley và McGuiness (2005) [39] * Sinh khối chết dưới mặt đất Theo Vogt và cs (1996), đối với việc xác định sinh khối chết tích lũy dưới mặt đất khá phức tạp. Rễ trong hệ sinh thái rừng có Φ ≤ 2 mm có chức năng hút nước và chất dinh dưỡng giúp cây sinh trưởng và phát triển được gọi là rễ cám, rễ cám luôn sinh trưởng, chết và phân hủy cũng giống như lá cây và tuổi thọ của phần lớn rễ cám chỉ vài tuần đến vài tháng [52]. Năm 2001, Kurniatun đã tổng hợp và xây dựng hệ thống các phương pháp thu thập số liệu về sinh khối trên và dưới mặt đất phục vụ nghiên cứu sinh khối và carbon rừng. Mặc dù vậy, Osawa và Aizawa (2012) [45] đã đề xuất một phương pháp xác định tổng sinh khối rễ cám chết, phân hủy và sống tích lũy hàng năm bằng phương pháp core tăng trưởng và túi phân hủy, tuy nhiên phương pháp này vẫn gặp phải nhưng sai số nhất định.

Đối với rễ lớn (có đường kính >2 mm) sinh khối chết hàng năm chiếm tỷ lệ rất thấp do đó nó cũng không được đề cập đến trong xác định sinh khối chết tích lũy hàng năm phần dưới đất. Khả năng tích lũy sinh khối và mô hình hóa quan hệ giữa sinh khối với các nhân tố điều tra của rừng Tăng trưởng sinh khối hàng năm (Bi) bao gồm phần trên mặt đất và phần dưới mặt đất. Nghiên cứu xác định tăng trưởng phần trên mặt đất đã được thực hiện khá rộng rãi trên thế giới cho nhiều hệ sinh thái rừng khác nhau. Các tác giả đều dựa vào mô hình toán học xây dựng mối tương quan 7 giữa D1.3 và sinh khối Sherman và cs (2003) [49]; Fukushima và cs (2008) , trên cơ sở đó căn cứ vào tăng trưởng hàng năm về D 1.3 để xác định ra tăng trưởng về sinh khối (kg/ha/năm).

Nhiều nghiên cứu đã xây dựng các phương trình tương quan giữa sinh khối với một số nhân tố điều tra ở rừng tự nhiên nhằm ước lượng sinh khối , biến độc lập được đưa vào tính toán là đường kính ngang ngực D 1.3 hoặc tiết diện ngang (BA) (Brown và cs, 1989; Martinez-Yrizar và cs, 1992; Brown và Iverson, 1992; Chase, 2005). Năm 2010, Picard và cs đã đề xuất sử dụng hàm mũ để ước lượng sinh khối mà biến độc lập là D, H và ρ, đây cũng là dạng hàm mà nhiều tác giả sử dụng (MacDicken, 1997; Johannes and Shem, 2011; Henry và cs, 2010; Brown, 1997). Năm 2012, Osawa and Aizawa đã nghiên cứu xác định sinh khối rễ cám sống, rễ cám chết tích lũy hàng năm và sinh khối phân hủy hàng năm ở đối tượng rừng phục hồi sau khai thác tại Nhật Bản. Bên cạnh đó, phương pháp chôn máy scan nhằm quan sát sinh trưởng và hình thái rễ được lần đầu đề cập tới bởi Dannoura và cs (2008) [40] trong nghiên cứu rễ cây con trong phòng thí nghiệm.

Những tác giả này (Osawa, Aizawa và Dannoura) hiện đang công tác tại phòng nghiên cứu sử dụng tài nguyên rừng thuộc trường Đại học Tổng hợp Kyoto. Hơn nữa, việc kết hợp giữa core tăng trưởng Osawa và Aizawa (2012) [45] và chôn máy scan, Dannoura (2008) [40] trong nghiên cứu sinh khối, phân hủy của rễ cây nhằm tăng độ chính xác trong xác định sinh khối tích lũy hàng năm dưới mặt đất vẫn chưa được đề cập tới ngay cả trong các nghiên cứu tại Nhật Bản và trên thế giới. Hô hấp của vi sinh vật đất (Rs) nhằm phân hủy các chất hữu cơ có trong đất và trên bề mặt rừng. Hô hấp vi sinh vật đất có tác dụng lớn đối với phân hủy chất hữu cơ trả lại dinh dưỡng cho đất, tuy nhiên nó cũng thải ra một lượng lớn 8 khí CO2 vào khí quyển Schlesinger và Andrews (2000) [48].

Phương pháp hộp kín sử dụng hệ thống phân tích khí [A closed chamber method (CC-method) using an infra-red gas analyzer - IRGA; Bekko và cộng sự, 1995] được sử dụng khá rộng rãi trong xác định hô hấp của đất [35]. Nghiên cứu xác định hô hấp đất đối với hệ sinh thái rừng đã được tiến hành khá rộng rãi trên thế giới (Knohl và cs, 2008; Lindroth và cs, 2008; Ryan và cs, 2005). Ở Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về sinh khối và carbon đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu khá lâu, tuy nhiên giá trị về rừng được nhìn nhận lớn hơn từ góc độ môi trường sinh thái so với giá trị kinh tế thì các công trình được đi sâu vào nghiên cứu và phân tích. Ngày nay, biến đổi khí hậu được xem là vấn đề thời sự toàn cầu thì việc quản lý, bảo vệ rừng đã được quan tâm nhiều hơn, sự đầu tư vào nghiên cứu về sinh khối, carbon để lượng hóa giá trị môi trường rừng phục vụ chi trả dịch vụ môi trường là vấn đề cần thiết.

Nghiên cứu sinh khối rừng trồng Rừng trồng các loài cây chủ yếu như Keo tai tượng, Keo lá tràm, Mỡ, Thông mã vĩ, Thông nhựa, Thông ba lá, Keo lai, Bạch đàn Urophyla,… đã được nhiều tác giả nghiên cứu để xây dựng các biểu thể tích, biểu cấp đất, biểu sản lượng, biểu thương phẩm, điển hình như các tác giả: (Nguyễn Xuân Quát (1985) [24]; Nguyễn Ngọc Lung (1989) [16]; Vũ Nhâm (1995); Vũ Tiến Hinh và Đào Công Khanh (2001); Viện Điều tra qui hoạch rừng (2001). Đây được coi là tiền đề để xác định sinh khối và carbon rừng. Sinh khối trên mặt đất * Sinh khối sống trên mặt đất Sinh khối tầng cây gỗ: Năm 1971, Ngô Đình Quế khi nghiên cứu rừng Thông ba lá tại Lâm Đồng, tác giả cho biết mật độ 2500 cây/ha, với cấp đất I 9 thì sinh khối đạt 330 tấn/ha (dẫn theo Võ Đại Hải, 2009) [12]. Hệ sinh thái rừng ngập mặn được Nguyễn Hoàng Trí (1986) nghiên cứu với quần xã rừng Đước đôi (Rhizophora apiculata) tại Minh Hải, tác giả đã sử dụng phương pháp cây mẫu để xác định năng suất sinh khối [32].

Với phương pháp cây mẫu Hà Văn Tuế (1994) cũng dùng để nghiên cứu năng suất và sinh khối của một số quần xã rừng nguyên liệu tại Vĩnh Phúc [27]. Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) khi nghiên cứu Thông ba lá, cấp đất III cho thấy sinh khối thân cây tuyệt đối là 311,75 tấn/ha, tổng sinh khối toàn rừng là 428,2 tấn/ha với số liệu được phân tích từ 60 cây tiêu chuẩn chặt ha. Năm 2001, Đặng Trung Tấn đã xác định tổng sinh khối rừng Đước tại Cà Mau là 327 m3/ha [28]. Theo Nguyễn Tuấn Dũng (2005) [3] khi nghiên cứu Thông mã vĩ và Keo lá tràm tại Hà Tây thì tổng sinh khối rừng Thông mã vĩ tuổi 20 dao động từ 173,4 - 266,2 tấn/ha và Keo lá tràm 15 tuổi khoảng 132,2 - 223,4 tấn/ha.

Theo Nguyễn Duy Kiên (2007) [15], khi nghiên cứu Keo tai tượng tại Tuyên Quang, tác giả xác định sinh khối tầng cây cao chiếm tỷ trọng lớn nhất 75-79%. Với rừng Mỡ tại Tuyên Quang và Phú Thọ tỷ lệ này chiếm 86% Lý Thu Quỳnh (2007) [26]. Phương pháp cây tiêu chuẩn để chặt hạ nhằm xác định sinh khối của một số loài Keo tai tượng, Bạch đàn urophylla, Mỡ từ đó tính toán sinh khối toàn lâm phần Võ Đại Hải (2009) [9]. Vũ Tấn Phương (2012) [21] đã chọn cây tiêu chuẩn đại diện ở các cấp đất khác nhau để chặt hạ xác định sinh khối tươi/khô của loài Thông ba lá, kết quả cho thấy sinh khối tầng cây gỗ chiếm 86% tổng sinh khối của lâm phần ở Lâm Đồng và 84,9% tổng sinh khối lâm phần ở Hà Giang.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ