Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH HỌC CÁ 1. Trong nước Theo Bộ Thủy sản (năm 1996), công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở Việt Nam là của H.
Sauvage (1881), công bố trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”. Trong thời kỳ này, một số công trình nghiên cứu khác về cá ở Việt Nam cũng được công bố nhưng chủ yếu là của các tác giả người nước ngoài, tiêu biểu là: L.Vaillant (1891, 1904) thu thập, mô tả một số loài ở Lai Châu, sông Kỳ Cùng; Đoàn thường trực Khoa học Đông Dương (1907) thu thập, mô tả một số loài ở Hà Nội… Tác giả, P. Chevey từ 1930÷1937 đã có công trình nghiên cứu cá ở các sông suối miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là vào năm 1937, P. Lemasson đã công bố công trình nghiên cứu tổng hợp cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam, công trình này giới thiệu 98 loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam thuộc 17 họ và được xem là công trình tổng hợp đầy đủ nhất lúc bấy giờ [60].
Nhiều tác giả nước ngoài khác như J. Bourret (1927), … cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về cá ở các sông suối và đầm phá ven biển ở nước ta. Đối với các nghiên cứu về cá biển, sự ra đời của Viện Hải dương học Nha Trang (1923) đã có nhiều đóng góp cho công nghiệp khai thác nguồn lợi thủy sản biển như thống kê nguồn lợ biển, theo dõi hoạt động di cư của đàn cá… Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945÷1954), việc nghiên cứu bị gián đoạn. Khi hòa bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1955÷1975), việc nghiên cứu được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành.
Trong giai đoạn này, nhiều công trình nghiên cứu về cá được công bố nhưng chủ yếu là cá nước ngọt vùng nội thủy. Từ 1975 đến nay, công tác điều tra nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi cả nước do Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản (NCNTTS) I Bắc Ninh, Viện NCNTTS II thành phố Hồ Chí Minh, Viện NCNTTS III Nha Trang thuộc Bộ Thuỷ sản (cũ) tổ chức thực hiện. Ngoài ra còn có sự tham gia của các nhà khoa học thuộc các trường đại học như: Đại học Nha Trang, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Trường Đại học sư phạm I Hà Nội, Đại học Tổng hợp Huế, Đại học Vinh. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Các công trình tiêu biểu như: Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần loài cá sông Thu Bồn (85 loài), sông Trà Khúc (47 loài), sông Vệ (34 loài), sông Côn (43 loài), sông Ba (48 loài), sông Cái (25 loài) [57].
Hai công trình mang tính tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các thời kỳ trước được công bố là: “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) đã lập danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa định loại, đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở miền Bắc nước ta [55]; và “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” do Mai Đình Yên cùng các cộng sự Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992) gồm 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [58]. Những kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh học của cá phải kể đến các công trình của các tác giả: Nguyễn Duy Hoan (1979): Đặc điểm sinh học của cá Quả (Ophiocephalus striatus); Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú (1980): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của cá Dìa (Siganus guttatus) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế [6]; Võ Văn Phú (1991): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của một số loài cá kinh tế ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [25]; Võ Văn Phú (1991): Góp phần tìm hiểu đặc tính sinh học của cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus) ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [26]; Võ Văn Phú (1994): Dẫn liệu về đặc tính sinh thái của cá Căng bốn sọc (Pelates quadrilineatus) ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [27]; Võ Văn Phú (1995): Khu hệ cá và đặc điểm sinh học của 10 loài cá kinh tế ở hệ đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [28]; Võ Văn Phú, Đặng Thị Thu Hiền, Phan Văn Cư (1996): Đặc điểm sinh học của cá Móm gai dài (Gerres filamentosus Cuvier) ở hệ đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế [29]; Đặc tính sinh sản của cá Dầy (Cyprinus centralus) của Võ Văn Phú và Hồ Thị Hồng (2001) [30]; Lê Văn Dân, Nguyễn Tường Anh và Võ Văn Phú (2007): Tác dụng của Progesteron (P) và Desoxycorticosteron acetat (DOCA) lên sự chín và rụng trứng in- vivo của cá Trôi (Labeo rohita) [5]; Nguyễn Phi Nam, Lê Đức Ngoan, Lê Văn Dân (2007): Kết quả bước đầu nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Dầy (Cyprinus centralus) [20]; Dương Thị Nga (2008): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Nâu - Scatophagus argus Linnaeus, ở đầm phá Thừa Thiên Huế; Võ Văn Phú, Biện Văn Quyền (2009), “Một số đặc điểm sinh trưởng của cá Ong căng ở đầm phá và vùng ven biển Thừa Thiên Huế”; Phan Thị Hạnh Nguyên (2009): Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tình hình khai thác cá Đối Lá (Mugil kelaartii Günther, 1861) ở đầm phá Thừa Thiên Huế [22]; Võ Thị Bảo Ý (2009): Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cá Đối nhọn (Mugil strongylocephalus Richardson, 1846) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế [54]; Lê Thị Hoàn, Võ Văn Phú (2010): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Chỉ vàng - Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) ở vùng biển Thừa Thiên Huế [10]; Lê Văn Dân (2010): Đặc tính sinh sản, kích thích chín và rụng trứng bằng Steroid C21 trên cá Trắm cỏ và cá Trôi ấn độ; Nguyễn Thị Phi Loan, Võ Văn Phú, Vũ Trung Tạng (2010): Đặc Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 tính sinh trưởng của cá Tráp vây vàng (Acanthopagrus latus) tại đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên [15]; Võ Văn Thiệp (2011): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Đục (Sillago sihama) ở vùng ven biển Quảng Trị; Trần Văn Phước, Nguyễn Đình Trung, Võ Thành Đạt, Hà Lê Thị Lộc (2012): Ảnh hưởng của thức ăn và độ mặn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống cá Khoang cổ đỏ (Amphirion fernatus) dưới 60 ngày tuổi; Trần Văn Cường (2012): Tuổi và sinh trưởng của cá Miễn sành gai (Evynnis cardinalis) ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ; Cao Ngọc Hải (2012): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Bống thệ (Oxyurichthys tentacularis) ở Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế; Lê Thị Hương (2014): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus) ở Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế…, đây là những tư liệu quý về sinh học, sinh thái, sinh lý các loài cá kinh tế nội địa Việt Nam. Tại tỉnh Quảng Bình Năm 1977, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Bình trong một cuộc điều tra về hiện trạng khu bảo tồn ở Phong Nha – Kẻ Bàng đã xác định được 61 loài cá thuộc 32 họ của 11 bộ, trong đó có 35 loài cá kinh tế, 4 loài phân bố hẹp. Sau đó, một nhóm các tác giả như: Hồ Thanh Hải, Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Kiêm Sơn, Phan Văn Mạnh, Lê Hùng Anh, Nguyễn Khắc Đỗ, Dương Ngọc Cường trong một cuộc khảo sát về môi trường nước và khu hệ thuỷ sinh vật ở các thủy vực động Phong Nha, tỉnh Quảng Bình đã thu được 36 loài thuộc 17 họ của 9 bộ cá.
Như vậy, cuộc điều tra này đã xác định thêm 7 loài mới ở Phong Nha và một loài mới cho nước ta. Năm 2003, nhóm tác giả gồm Võ Văn Phú, Trương Thu Hà, Hoàng Thị Thuý Liễu thực hiện công trình: “Nghiên cứu cấu trúc về thành phần các loài cá ở sông Nhật Lệ” đã xác định được 169 loài nằm trong 103 giống thuộc 63 họ của 17 bộ [31]. Năm 2007, Hồ Thị Nhi Min, “Nghiên cứu đa dạng sinh học về thành phần loài cá ở hệ thống sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình” đã xác định được 216 loài trong 132 giống thuộc 63 họ của 17 bộ khác nhau. Công trình này đã bổ sung được 47 loài mới cho thành phần loài khu hệ cá trong tổng số loài cá ở hệ thống sông Nhật Lệ [18].
Năm 2011, công trình “Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Long Đại, tỉnh Quảng Bình” của tác giả Nguyễn Giang Nam đã xác định được 101 loài trong 69 giống thuộc 32 họ của 10 bộ khác nhau [19]; và công trình “Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Roòn, tỉnh Quảng Bình” của tác Trần Đại Nghĩa đã xác định được 135 loài trong 91 giống thuộc 54 họ của 17 bộ khác nhau [21]; Nguyễn Thị Diệu Hà (2011): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Phèn hai sọc (Upeneus sulphureus) ở vùng ven biển Quảng Bình. Mới đây năm 2012, công trình “Nghiên cứu khu hệ cá ở sông Gianh, tỉnh Quảng Bình” của tác giả Lê Thị Thu Phương đã xác định được 157 loài trong 97 giống thuộc 55 họ của 18 bộ khác nhau [34]; Nguyễn Thị Mỹ Hường (2013): Nghiên cứu đặc Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 điểm sinh học và phân bố của cá Đối lá (Mugil kelaartii Günther, 1861) ở sông Gianh, tỉnh Quảng Bình; Hồ Anh Tuấn (2012): Nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt có giá trị kinh tế ở Quảng Bình, giải pháp bảo tồn và ương nuôi; Võ Văn Thiệp (2014): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng giai đoạn trưởng thành của ca móm gai dài (Gerres filamentosus). LƯỢC SỬ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH HỌC CÁ HANH 1.Trên thế giới Cá Hanh (cá Tráp vây vàng) đã được Houttuyn mô tả đầu tiên và đặt tên là Acanthopagrus latus vào năm 1782, ngoài ra nó cũng có tên khác là Mylio latus. Năm 1822, Lacepede đặt tên là Coius datnia, Hamilton đặt tên Chrysophrys datnia và còn nhiều tác giả đặt tên khác nhau.
Tuy nhiên, cách phân loại Acanthopagrus latus (Houttuyn, 1782) đã được ghi trong Appendix I, FAO (1974 và 1998) là được nhiều nhà phân loại chấp nhận nhất. Cá Hanh – Acanthopagrus latus đã được Vương Dĩ Khang (1958) của Trung Quốc xác định vị trí phân loại giống như hệ thống phân loại của Houttuyn năm 1782. Nguyễn Nhật Thi (1971) cũng xác nhận ở Việt Nam có một loài duy nhất thuộc giống Acanthopagrus, và đặt tên cá Tráp vây vàng.