mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm 17 mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [Dương Xuân Sơn, (2009), Giáo trình Báo chí truyền hình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” của TS. Trần Bảo Khánh, khái niệm “chương trình truyền hình” được hiểu là “kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, tr. “La kết quả hoạt động, là sản phẩm của tập thể bao gồm các bộ phận kỹ thuật — tài chính — nội dung” [16, tr 31].
Điều này có thê được lý giải là chương trình truyền hình được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thé. Những thông tin mà nó cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận. Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì thế đòi hỏi phải được lựa chọn, sắp xếp hợp lý để khán giả có thể tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu. Mở rộng ra, sự lựa chọn đó bao gồm cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp thê hiện, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của con người.
Và chính sự lựa chọn đó sẽ quy định danh mục chương trình được lên sóng trên các đài truyền hình. Từ góc độ vai trò của “chương trình” trong sứ mệnh thông tin của Kênh truyền hình, chương trình được hiểu là “hình thức thé hiện thực tế, là sự vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong xã hội”. Chương trình là linh hồn của các đài truyền hình, không có chương trình thì cũng không có truyền hình. Nhu vậy, từ các phân tích trên có thé, chương trình TH là kết quả hoạt động của TH có sự kết hợp của nội dung, hình ảnh, lời bình, âm thanh.
được sắp xếp một cách hợp lý về nội dung để truyền tải thông tin tới khán giả. Trong đó bao gồm các quá trình sáng tạo chương trình từ nhiều công đoạn và tồn tại ở nhiều mức và quá trình tạo dựng kế hoạch, sắp đặt tác phẩm, chuyên mục khác nhau. 18 Bên cạnh khái niệm về truyền hình, đề tài nghiên cứu cũng cần phải kế đến một số khái niệm có liên quan đến lĩnh vực truyền hình thường được sử dụng phổ biến như: Khái niệm đa phương tiện (Multimedia): Đa phương tiện là thuật ngữ xuất phát từ “Multimedia” trong tiếng Anh. Có thé hiểu, “Multimedia” hay “truyền thông đa phương tiện” là sự kết hợp của ngôn ngữ viết, ảnh, video, âm thanh, thiết kế đồ họa và các phương thức tương tác khác nhằm truyền tải một câu chuyện, một vấn đề một cách đa diện, mỗi hình thức thể hiện góp phần tạo nên câu chuyện thuyết phục nhất và đầy đủ thông tin nhất.
Khái niệm nhà báo đa phương tiện: Người làm báo chuyên nghiệp, có khả năng độc lập kết hợp ngôn ngữ viết, ảnh, video, âm thanh, thiết kế đồ họa và các phương thức tương tác khác nhằm sáng tạo ra một sản pham báo chí hoàn chỉnh. Điều này có nghĩa, nhà báo ấy hội tụ đủ những kỹ năng, tinh hoa của một nhà báo in, nhà báo truyền hình, nhà báo phát thanh và cả báo mạng điện tử. Truyền hình tương tác: là một dạng truyền hình cho phép người xem tham gia, điều khiển các chương trình truyền hình. Với dạng truyền hình truyền thống, đường truyền truyền hình là một chiều.
Các nhà đài cho phép khán giả xem gì, vào giờ nào, trên kênh nào là quyền của họ. Với truyền hình tương tác, khán giả được trực tiếp tham gia vào chương trình đang phát sóng. Khán giả ở đây là những người đang xem TV chứ không phải là những người trong trường quay.1 Khái niệm mạng xã hội Mạng xã hội hay còn được gọi là mạng xã hội ảo, mạng xã hội trực tuyến (Social network, Virtual network). Xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20 và bùng nỗ mạnh mẽ trong chưa tới 10 năm trở lại đây, mạng xã hội đã không 19 còn xa lạ đối với người dùng Internet.
Tuy vậy, xung quanh thuật ngữ cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Theo Giáo sư Nicole B. Ellison - Khoa Nghiên cứu Thông tin - Truyền thông đại học Bang Michigan (Mỹ), thì mạng xã hội là những dịch vụ trên nền tảng web cho phép các cá nhân: (1) xây dựng hồ sơ thông tin công khai (hoặc bán công khai) bên trong một hệ thống giới hạn, (2) kết nối với những người sử dụng khác dé chia sẻ điều gì đó, (3) thay được các kết nối của mình và các hoạt động mà những người sử dụng mạng xã hội kết nối với mình thực hiện. Hình thức kết nối cụ thể có sự khác biệt nhất định giữa các website mạng xã hội khác nhau. Trong khoản 22 điều 3 chương 1 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng có ghi rõ: "Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đồi thông tin với nhau, bao gồm dich vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác".
Như vậy, có thê đưa ra định nghĩa về mạng xã hội như sau: Là đại diện tiêu biểu của web 2.0 mô phỏng các mối quan hệ trong xã hội thực. Giúp tạo dựng bản sắc riêng cho mỗi thành viên và kết nối họ mà không phân biệt thời gian và không gian thành một cộng đồng trực tuyến. Sự kết nối này được thực hiện thông qua các tính năng như kết bạn, chat, email, chia sẻ đường link, clip. nhằm phục vụ những yêu cầu chung và những giá trị của xã hội.2 Đặc điểm mạng xã hội Tính liên kết cộng dong Nhắc đến đặc điểm của mạng xã hội, yếu tố đầu tiên và dé nhận thay nhất chính là tính liên kết hay kha năng liên kết cộng đồng.
Có thé xem liên kêt chính là mục đích đâu tiên và rõ ràng nhât khi mạng xã hội được con 20 người phát minh. Sự liên kết giữa các thành viên mạng xã hội tạo thành một cộng đồng mạng với số thành viên đông đảo, vượt qua cả giới hạn về không gian và thời gian của đời sống thực. Tinh da phương tiện Cũng giống như báo điện tử, mạng xã hội có sự kết hợp chặt chẽ, trở thành tập hợp của nhiều phương tiện truyền thông khác nhau bao gồm chữ viết, hình ảnh tinh, hình ảnh động, audio, video, màu sắc, đồ họa, hình khối. Được xây dựng trên nền tảng web 2.0 nên mạng xã hội còn sở hữu rất nhiều tiện ích như chia sẻ/gửi hình ảnh, chat, chat voice, chia sẻ bài hát, bộ phim, đường link, gửi tập tin.
Có thể nói, tính đa phương tiện của mạng xã hội hoàn toàn không hề thua kém bat cứ tờ báo điện tử nào, thậm chí là vượt trội. Khả năng tương tác cao Mạng xã hội kết nối mọi người với nhau. Hơn thế nữa, mạng xã hội được thiết kế để những thành viên đã kết nối có thể tương tác với nhau một cách tức thì và liên tục. Thông tin đi và đến giữa các tài khoản mạng xã hội diễn ra nhanh chóng.
Các thao tác dé thành viên mạng xã hội có thể tương tác lẫn nhau như share, comment, like, tweet, retweet. cũng được thực hiện dễ dàng. Sự tương tác diễn ra theo nhiều hướng: giữa người đăng thông tin và người nhận thông tin; giữa những người cùng nhận thông tin; giữa người đăng và người bổ sung thêm thông tin. Rao cản về mặt không gian và thời gian cũng trở nên không còn nghĩa lý trên nên tảng này.
Khả năng lưu giữ và truyền tải lượng thông tin không lô Mang xã hội ra đời và phát triển dé đáp ứng nhu cầu được chia sẻ và bộc lộ bản thân của chính người sử dụng. Với lượng thành viên đông đảo và phương thức truy cập cũng như đăng tải dễ dàng, mạng xã hội nhanh chóng trở thành một kho thông tin khổng lồ do chính người sử dụng xây dựng nên. Thông tin được một cá nhân đăng tải, sau đó các cá nhân khác tiép tục luận 21 bàn và chia sẻ tới bạn bè, người quen. bởi vậy đã tạo thành dòng chảy thông tin liên tục và day ap.
Khả năng lan tỏa rộng lớn Khả năng lan tỏa rộng lớn của mạng xã hội được thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, đó là sự lan tỏa về thông tin và thứ hai, đó là sự lan tỏa về mặt cảm xúc (thậm chí dẫn tới sự lan tỏa - ảnh hưởng về nhận thức, thái độ và hành vi). Chương trình truyền hình trên mạng xã hội Dé xây dựng tác phẩm phẩm chí có nội dung hap dẫn công chúng và có chỉ số rating cao, cần hội đủ và thỏa mảng các yếu tố: con người, phương tiện kỹ thuật và tài chính. Truyền hình hiện đại ngày nay được định dạng theo phương châm “Nội dung là vua, công nghệ là nữ hoàng, công chúng là thượng đế, nhà báo là chiến sỹ”.
Thực tế cho thấy, báo chí và truyền hình hiện đại trọng dụng công nghệ và chạy theo công nghệ để tồn tại và phát triển. Nếu có sản pham báo chí tốt, nhưng được truyền dan, phát sóng trên hạ tang có độ lan tỏa hạn chế, ít người xem, thi tác phâm ấy cũng không mang lại hiệu quả như mong muốn. Ngược lại, khi có hạ tầng phát sóng tốt, nhưng chất lượng sản phẩm báo chí kém sẽ bị công chúng quay lưng từ chối. Chương trình truyền hình trên MXH trước hết mang đầy đủ những đặc điểm, tinh chat của một tác phâm báo chí thông thường.
Là kết quả hoạt động của TH có sự kết hợp của nội dung, hình ảnh, lời bình, âm thanh. được sắp xếp một cách hợp lý về nội dung để truyền tải thông tin tới khán giả. Tuy nhiên, trong yếu tô cau thành của truyền hình hiện đại “Nội dung là vua. Đối với chương trình truyền hình phát trên MXH, thì yếu tố “bản quyền” phát sóng cần được xem là “vua thứ hai” và là yếu tố bắt buộc, tiên quyết khi sản xuất chương trình truyền hình dành cho cộng đồng khán giả số.
Các chương trình được đăng tải trên MXH, thay vì chỉ có hai yếu tố ngôn ngữ chính là hình ảnh và âm thanh, đòi hỏi có nhiêu yêu tô ngôn ngữ 22 khác, như: graphic, text, body language, underline, newsbar, Thumbnail.