Luận án tiến sĩ: Sản xuất bột đạm thủy phân từ sụn cá mập trắng Carcharhinus dussumieri

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sản xuất bột đạm thủy phân từ sụn cá mập trắng Carcharhinus dussumieri bằng enzyme protease, mang lại tiềm năng ứng dụng cao.

Trường đại học

Trường Đại học Nha Trang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

172
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

MỞ ĐẦU

0.1. GIỚI THIỆU VỀ CHONDROITIN SULFATE VÀ ỨNG DỤNG

0.2. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG SỤN CÁ MẬP

0.3. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ THỦY PHÂN SỤN CÁ MẬP

0.4. GIỚI THIỆU VỀ KỸ THUẬT SẤY PHUN

0.5. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5.1. NGUYÊN VẬT LIỆU

0.5.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5.2.1. Các phương pháp nghiên cứu protease và chondroitin sulfate
0.5.2.2. Các phương pháp phân tích hóa học
0.5.2.3. Các phương pháp phân tích cấu trúc
0.5.2.4. Phương pháp định lượng vi sinh vật

0.6. PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM

0.6.1. Phương pháp tiếp cận các nội dung nghiên cứu

0.6.2. Bố trí thí nghiệm xác định các thông số của quá trình nghiên cứu

0.7. HÓA CHẤT VÀ CÁC THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM CHỦ YẾU ĐÃ SỬ DỤNG

0.8. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. NGHIÊN CỨU THỦY PHÂN SỤN CÁ MẬP (C. DUSSUMIERI) BẰNG ENZYME PROTEASE

3.1.1. Phân tích thành phần cơ bản của sụn cá mập trắng

3.1.2. Xác định loại enzyme protease thích hợp cho quá trình thủy phân

3.1.3. Xác định tỷ lệ enzyme alcalase/papain thích hợp cho quá trình thủy phân

3.1.4. Xác định nồng độ hỗn hợp enzyme alcalase - papain thích hợp cho quá trình thủy phân

3.1.5. Xác định tỷ lệ nước bổ sung thích hợp cho quá trình thủy phân

3.1.6. Xác định pH thích hợp cho quá trình thủy phân

3.1.7. Xác định nhiệt độ thích hợp cho quá trình thủy phân

3.1.8. Xác định thời gian thích hợp cho quá trình thủy phân

3.1.9. Tối ưu hóa quá trình thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase-papain

3.2. Đề xuất quy trình thủy phân sụn cá mập bằng hỗn hợp enzyme alcalase papain

3.3. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH THỦY PHÂN SỤN CÁ MẬP BẰNG HỖN HỢP ENZYME ALCALASE - PAPAIN VÀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CỦA CHONDROITIN SULFATE

3.3.1. Đánh giá chất lượng dịch thủy phân sụn cá mập

3.3.2. Phân tích cấu trúc chondroitin sulfate có trong dịch thủy phân sụn cá mập

3.4. NGHIÊN CỨU SẤY PHUN TẠO BỘT ĐẠM THỦY PHÂN CHỨA CHONDROITIN SULFATE

3.4.1. Xác định chất mang thích hợp cho quá trình sấy phun

3.4.2. Xác định tỉ lệ chất mang thích hợp cho quá trình sấy phun

3.4.3. Xác định nhiệt độ không khí buồng sấy thích hợp

3.4.4. Xác định tốc độ bơm nhập liệu

3.4.5. Xác định áp suất buồng sấy

3.4.6. Tối ưu hóa quá trình sấy phun tạo bột đạm chứa chondroitin sulfate từ dịch thủy phân sụn cá mập

3.5. Đề xuất quy trình sản xuất và đánh giá chất lượng bột đạm chứa chondroitin sulfate từ sụn cá mập

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chondroitin sulfate và ứng dụng

Chondroitin sulfate là một glycosaminoglycan quan trọng, có vai trò thiết yếu trong cấu trúc và chức năng của sụn khớp. Nó không chỉ giúp duy trì độ đàn hồi và tính linh hoạt của khớp mà còn bảo vệ sụn khỏi sự phá hủy do các enzyme như collagenase. Việc sử dụng chondroitin sulfate trong các sản phẩm thực phẩm chức năng ngày càng phổ biến, nhờ vào khả năng hỗ trợ điều trị các bệnh lý về xương khớp. Nghiên cứu này tập trung vào việc sản xuất bột đạm từ sụn cá mập trắng (Carcharhinus dussumieri) thông qua quá trình thủy phân bằng enzyme protease. Sản phẩm thu được không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn chứa hàm lượng chondroitin sulfate đáng kể, mở ra cơ hội ứng dụng trong ngành thực phẩm chức năng.

II. Tình hình khai thác và sử dụng sụn cá mập

Sụn cá mập là nguồn nguyên liệu quý giá, chứa hàm lượng protein thủy phânchondroitin sulfate cao. Việc khai thác sụn cá mập không chỉ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng mà còn góp phần bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, việc khai thác cần được quản lý bền vững để tránh tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, việc sử dụng enzyme protease trong quá trình thủy phân sụn cá mập không chỉ giúp tối ưu hóa hiệu suất thu hồi chondroitin sulfate mà còn nâng cao giá trị dinh dưỡng của sản phẩm. Các thông số như tỷ lệ enzyme, pH, và nhiệt độ đều ảnh hưởng đến quá trình này, cần được điều chỉnh hợp lý để đạt được hiệu quả tối ưu.

III. Nghiên cứu thủy phân sụn cá mập bằng enzyme protease

Quá trình thủy phân sụn cá mập được thực hiện bằng cách sử dụng enzyme protease với các tỷ lệ khác nhau. Kết quả cho thấy, tỷ lệ enzyme alcalase/papain 60/40 với nồng độ 0,3% mang lại hiệu suất thu hồi chondroitin sulfate cao nhất. Thời gian thủy phân tối ưu là 20 giờ ở nhiệt độ 50°C và pH 6,8. Sản phẩm thu được không chỉ chứa hàm lượng chondroitin sulfate cao mà còn đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều này chứng tỏ rằng, việc ứng dụng công nghệ enzyme trong sản xuất bột đạm từ sụn cá mập là một hướng đi tiềm năng cho ngành công nghiệp thực phẩm.

IV. Đánh giá chất lượng dịch thủy phân và cấu trúc chondroitin sulfate

Chất lượng dịch thủy phân từ sụn cá mập được đánh giá thông qua các chỉ tiêu hóa học và vi sinh. Kết quả cho thấy, dịch thủy phân đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm với hàm lượng chondroitin sulfate cao. Phân tích cấu trúc cho thấy sản phẩm chứa cả hai đồng phân GlcA-GalNAc-4SO3- và GlcA-GalNAc-6SO3-, cho thấy tính đa dạng và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm. Việc xác định cấu trúc này không chỉ giúp khẳng định chất lượng sản phẩm mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc phát triển các sản phẩm chức năng từ sụn cá mập.

V. Nghiên cứu sấy phun tạo bột đạm thủy phân

Quá trình sấy phun được thực hiện để tạo ra bột đạm từ dịch thủy phân sụn cá mập. Các thông số như tỷ lệ chất mang, nhiệt độ buồng sấy và tốc độ bơm nhập liệu được tối ưu hóa. Kết quả cho thấy, sử dụng 12% maltodextrin làm chất mang với nhiệt độ sấy 80°C cho hiệu suất thu hồi chondroitin sulfate lên đến 87,81%. Sản phẩm cuối cùng đạt tiêu chuẩn vi sinh và có hàm lượng dinh dưỡng cao, mở ra cơ hội ứng dụng trong ngành thực phẩm chức năng. Việc nghiên cứu và phát triển quy trình sản xuất này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên biển.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ CHONDROITIN SULFATE VÀ ỨNG DỤNG 1. Cấu trúc chondroitin sulfate Chondroitin sulfate (CS) là một polysaccharid, thuộc nhóm heteropolysaccharid gọi là glycosaminoglycan (GAG), được tìm thấy trong tự nhiên ở dạng một polyme mạch thẳng gồm các đơn vị cơ bản được cấu tạo bởi 2 loại đường là N-acetyl-D- galactosamine (GalNAc) và D-glucuronic acid (GlcA) xen kẽ nhau (polymeric D- galactosamine and D-glucuronic acid). Các gốc đường này có thể được sulphate hóa hay không bị sulphate hoá [23, 63], một số gốc GlcA bị epime hoá thành L-iduronic acid (IdoA).

Chondroitin sulfate là một polyme tự nhiên có chứa 15÷150 đơn vị cấu trúc của đơn vị cơ bản gồm 2 loại đường là GlcA và GalNAc. Khối lượng phân tử của CS thường biến động trong khoảng 10. Năm 1950, Julia Einbinder và Maxwell Schubert lần đầu tiên phát hiện và tách chiết được chondroitin sulfate từ sụn bằng cách kỹ thuật chiết rút chondroitin sulfate trong dung dịch natri hydroxit 2%. Sau đó, Julia Einbinder và Maxwell Schubert đã tinh sạch được chondroitin sulfate bằng cách sử dụng canxi clorua khử protein ra khỏi dịch chiết, thu được chondroitin sulfate [65].

công bố nghiên cứu về CS và cho rằng CS thường gắn với các protein bằng liên kết o-glycosid tạo thành một phức chất proteoglycan (PG) (glucoprotein) - là hợp chất hữu cơ thuộc nhóm mucopolysaccharid [56, 57, 65, 81, 84, 85]. Sự kết hợp giữa nhóm sulphate (SO42-) với các nhóm carboxyl (COO-) làm cho phân tử chondroitin sulfate có mật độ điện tích âm rất cao dễ dàng liên kết đồng hoá trị với các protein trong cấu tạo của PG. Trong cấu trúc của proteoglycan, CS thường gắn với nhóm OH của acid amin serine nằm trong chuỗi polypeptid của protein. Các nhà khoa học vẫn chưa biết được cách protein gắn chọn lọc chính xác với GAG.

Tuy thế, họ cho rằng GAG được tổng hợp trong mạng lưới nội bào và trong thể Golgi. Sự gắn kết của chuỗi GAG với 4 gốc đường đơn theo phương thức cố định là Xyl-Gal-Gal-GlcA trong đó xylose gắn với protein trong mạng lưới nội bào, còn các phân tử đường khác được gắn trong hệ Golgi [45, 48, 79]. 4 luan an Chondroitin sulfate là polyme ưa nước vì thế mô sụn có hàm lượng nước cao. Phân tử đường trong cấu trúc của CS có thể không bị sulphate hoá, bị sulphate hoá 1 lần hay 2 lần, đa phần nhóm OH ở vị trí carbon 4 và 6 của GalNAc được sulphate hoá, đối với một số chuỗi GAG có thể bị sulphate hoá ở vị trí 2 của GlcA.

Quá trình sulphate hoá là nhờ các enzyme sulfotransferase đặc hiệu. Việc sulphate hoá ở các vị trí khác nhau tạo nên hoạt tính sinh học đặc thù cho CS [39, 45, 48÷50]. Trong cơ thể sống, các PG và GAG giữ vai trò quan trọng trong nhiều quá trình khác nhau như: điều hòa hoạt động enzyme và sự bám dính, phát triển và di thực của tế bào [39, 45, 48÷50]. GAG còn có chức năng cấu trúc và điều khiển trong cơ thể sống.

Về cấu trúc, nó là thành phần chính của mô sụn. Về điều khiển, CS rất dễ gắn kết với protein trong mô tế bào nhờ có điện tích âm, mối quan hệ này rất quan trọng cho việc điều hoà các hoạt động của tế bào. Phân tử PG của mô sụn (chứa khoảng 80÷100 mạch CS) cùng với protein và acid hyaluronic tạo thành một phức hệ thủy động học có khả năng nén thuận nghịch giúp cho mô sụn chống lại sự ép nén với sự biến dạng nhỏ nhất [38]. Công thức và cấu trúc hoá học của một đơn vị trong cấu trúc của chondroitin sulfate (C14H21NO14S)n được trình bày ở hình 1.

Cấu trúc hoá học của một đơn vị trong chuỗi chondroitin sulfate [23,56] Chondroitin-4-sulphate: R1 = H; R2 = SO3H; R3 = H. Chondroitin-6-sulphate: R1 = SO3H; R2, R3 = H. Cấu trúc mạch của các chondroitin sulfate [23, 56] 5 luan an Chondroitin có 3 loại chính là A, B và C được đặc trưng bởi số lượng và vị trí của nhóm sulphate trong disaccharid lặp lại của chuỗi polysaccharid. Chondroitin sulfate A: gốc sulphate gắn ở vị trí C-4 (chondroitin-4-sulphate, GlcA-GalNAc-4S, CS4) (Hình 1.3), kết hợp với protein tạo nên chondromucoid và có nhiều ở mô sụn.

Chondroitin sulfate C: gốc sulphate gắn ở vị trí C-6 (chondroitin-6-sulphate, CS6). Chondroitin sulfate B (IdoA-GalNAc-4S, CS4): acid iduronic thay thế acid glucuronic (hình 1. CS4 còn được gọi là dermatant sulphate (iduronic acid thay cho glucuronic acid), thường có nhiều ở da, ngoài ra còn gặp ở van tim, gân, thành mạch. Vị trí bị sulphate hoá ở C-4 của GlcNAc và C-5 của glucuronic acid bị epime hoá thành iduronic acid [23, 56].

Loại A và B (CS4) thường được tìm thấy ở sụn động vật có vú (bò và lợn), ngược lại loại C (CS6) thường được tìm thấy chủ yếu ở các loài cá sụn (cá mập, cá đuối,. Tuy nhiên, CS từ các nguồn nguyên liệu khác nhau rất đa dạng về cấu trúc và kích thước, chúng chứa nhiều hay ít các isome của CS, có tới 16 isome của CS, phụ thuộc vào vị trí sulphate hóa của các cặp đường đôi tạo nên 16 isome/ mỗi cặp. Trong đó CS A và CS C là những thành phần chủ yếu hình thành PG. Cấu trúc một đơn vị của Hình 1.

Cấu trúc của chondroitin chondroitin sulfate A sulfate B Hình 1. Cấu trúc của chondroitin sulfate - C (GlcA-GalNAc-6S) - CS6 Người ta tách chiết được CS trước khi cấu trúc của nó được xác định. Do vậy, tên gọi của CS cũng có sự thay đổi. Phân loại CS được tóm tắt trong bảng 1.

6 luan an Bảng 1. Phân loại chondroitin sulfate [23, 56] Tên Vị trí bị sulphate hoá Tên phân loại Carbon 4 của đường - N- Chondroitin-4-sulphate (CS4); ở Chondroitin sulfate A acety-D-galactosamine người có trong: sụn khớp, giác (GalNAc) mạc, da, thành mạch,. Chondroitin sulfate B Carbon 4 của GalNAc – Chondroitin-4-sulphate (CS4) (Dermatant sulphate) L-iduronic acid Chondroitin sulfate C Carbon 6 của GalNAc Chondroitin-6-sulphate (CS6) Carbon 2 của glucuronic Chondroitin-2,6-sulphate (C2, Chondroitin sulfate D acid and 6 của GalNAc 6S) Carbon 4 và 6 của Chondroitin-4,6-sulphate (C4, Chondroitin sulfate E GalNAc 6S) CS tinh chế là chất bột màu trắng hoặc trắng ngà, tan tốt trong nước và rất dễ hút ẩm nhưng không tan trong ethanol, methanol, acetone,. Khối lượng phân tử của CS nguyên liệu thường được sử dụng trong chế phẩm thuốc vào khoảng 15.

Kỹ thuật thu nhận chondroitin sulfate Cấu trúc phân tử CS rất đa dạng và phức tạp nên người ta chưa thể tổng hợp được CS bằng con đường tổng hợp hoá học. Hiện nay người ta mới chỉ tổng hợp được các mạch oligosaccharid ngắn có trình tự giống một đoạn mạch CS như một số CS ở dạng tetrasaccharid (4 gốc đường đơn) có khả năng kích thích sự phát triển và phân hóa của neron thần kinh, còn phân tử CS dạng disaccharid thì không có tác dụng trên [23, 56]. CS thô mới chỉ được thu nhận duy nhất từ các nguồn tự nhiên bằng con đường chiết rút CS từ các loại mô sụn động vật. Sụn vi cá mập (xương sọ, xương sống, vây, .) là nguồn nguyên liệu thu nhận CS phổ biến nhất dùng làm thuốc và chế phẩm bổ sung dinh dưỡng [58, 63, 66].

Trong mô sụn của động vật, chondroitin sulfate liên kết chặt với protein tạo thành dạng phức proteoglycan. Vì vậy, muốn thu nhận CS, việc đầu tiên người ta phải tách CS ra khỏi protein nhờ việc làm yếu mối liên kết giữa CS-protein và phân huỷ protein để giải phóng các phân tử CS [23, 56]. 7 luan an * Các phương pháp thu nhận chondroitin sulfate thô Quá trình thu nhận chế phẩm CS thô từ sụn cá có thể được thực hiện bằng phương pháp hoá học hoặc phương pháp sinh học (dùng enzyme) để thuỷ phân sụn cá [23, 44, 56, 58, 81]. Trong phương pháp hoá học, mô sụn được xử lý bằng nước nóng hoặc dung dịch muối hoặc kiềm (NaOH) hoặc acid (HCl, CH3COOH,.) để tách GAG khỏi các phân tử (protein, hyaluronic acid, …) [56].

Phương pháp này đã được áp dụng để thu CS từ sụn gà, sụn bò [23, 57, 63, 65, 71, 88]. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp hóa học là phá vỡ các liên kết glycosid của CS khi thu nhận CS. Phương pháp sinh học dùng enzyme để thủy phân mô sụn, đây là phương pháp có hiệu quả để thu nhận CS. Do CS không bị biến đổi về cấu trúc, giữ được hoạt tính sinh học và phương pháp này không gây ô nhiễm môi trường do các hóa chất (muối, kiềm, acid,.

Một số nghiên cứu cho rằng có thể sử dụng enzyme protease (papain, actinase, pronase,…) để thuỷ phân sụn giải phóng GAG khỏi các protein liên kết. Sau đó, loại bỏ protein thì CS được tách ra và tinh sạch. Phương pháp này đã được dùng để thu nhận GAG từ da xương cá Labeo rohita [63], sụn của mực, cá mập, cá sấu, cá đuối,. Các chuỗi dài hydrophilic polyme GAG không tan trong ethanol, acetone và methanol.

Vì vậy, người ta có thể sử dụng các dung môi hữu cơ để kết tủa thu CS thô. Một số nghiên cứu cho thấy ethanol 60÷80% có khả năng kết tủa được CS và tách CS ra khỏi các polysaccharid khác [56]. * Các phương pháp tinh sạch chondroitin sulfate Chế phẩm CS thô thu được thường có chứa một lượng tạp chất, chẳng hạn như collagen, protein, hyaluronic acid, muối khoáng,. Do vậy, người ta cần phải tiến hành các bước tinh sạch để loại các tạp chất trên.

Để thu CS tinh khiết, người ta có thể sử dụng các muối của ammonium như cetylpyridium chloride (CPC) hoặc cetyltrimethylamnonium bromide (CTAB) để tạo phức kết tủa với các GAG và các polysacharid khác sau đó loại collagen ra khỏi kết tủa [56]. Các GAG có gốc sulphate trong phức hợp kết tủa CPC-GAG và CTAB-GAG sẽ bị hòa tan trong một số muối NaCl hoặc KCl ở nồng độ thấp (0,3÷0,4M). Sau khi loại bỏ các GAG có gốc sulphate như hyaluronic acid, chỉ còn lại tủa CPC-GAG và CTAB-GAG [56]. CS trong phức tủa CPC-GAG và CTAB-GAG sẽ được hòa tan phần lớn trong một số loại muối ở nồng độ 8 luan an cao (0,9-2,0M KCl; 2,0M NaCl; 1N MgCl2 và 0,7N÷1,5 M MgSO4,.), sau đó tiếp tục tinh chế bằng thẩm tích và kết tủa bằng dung môi hữu cơ để thu CS tinh khiết.

Scott cho rằng phương pháp trên là phương pháp hiệu quả để tách và tinh sạch các loại polysaccharid và nucleic acid ra khỏi CS [56]. CS là một polyanion có điện tích âm (-) rất cao, nên CS rất dễ liên kết và bám dính trên các cột sắc ký. Vì vậy, người ta có thể tinh sạch CS bằng sàng lọc phân tử nhờ các cột sắc ký trao đổi ion (DEAE-Sephacel, DOWEX 50, DEAE-Cellulose, .) hoặc bằng sắc ký lọc gel (Sepharose CL-6B, sephacryl S-300, sephadex - G25,. * Các phương pháp định tính và định lượng chondroitin sulfate Người ta thường xác định hàm lượng CS dựa vào sự thay đổi quang phổ hấp thụ của chất màu DMMB (1,9-dimethylmethylene blue) khi gắn với CS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Sản xuất bột đạm thủy phân từ sụn cá mập trắng Carcharhinus dussumieri" của tác giả Đinh Hữu Đông, được thực hiện tại Trường Đại học Nha Trang, tập trung vào nghiên cứu quy trình sản xuất bột đạm thủy phân chứa chondroitin sulfate từ sụn cá mập trắng bằng enzyme protease. Nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong việc tận dụng nguồn nguyên liệu từ cá mập mà còn góp phần vào việc phát triển các sản phẩm dinh dưỡng có giá trị cao. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về công nghệ chế biến thủy sản và ứng dụng của bột đạm trong ngành thực phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến công nghệ chế biến và ứng dụng trong thực phẩm, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu quá trình thuỷ phân tinh bột khoai lang bằng enzyme và ứng dụng trong thực phẩm, nơi khám phá quy trình chế biến tinh bột, và Nghiên cứu thu nhận hoạt chất từ vỏ quả măng cụt và ứng dụng trong ngành thực phẩm, tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc khai thác các hoạt chất tự nhiên trong thực phẩm. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực chế biến thực phẩm và ứng dụng của các nguyên liệu tự nhiên.