MỞ ĐẦU Ngày nay, con người không chỉ quan tâm đến nhu cầu về dinh dưỡng, mà còn quan tâm đến nhu cầu về sức khỏe. Vì thế, những thực phẩm chức năng, những thực phẩm có thể phòng tránh bệnh tật ngày càng được nghiên cứu nhiều, trong đó phải kể đến các loại thực phẩm giàu chất chống oxy hóa có nguồn gốc tự nhiên. Nghệ được biết đến như một phương thuốc được sử dụng rộng rãi ở châu Á để phòng trừ nhiều loại bệnh tật. Thành phần quan trọng nhất trong nghệ là curcumin, đã được biết đến với khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, chống ung thư, kháng khuẩn … Tuy nhiên khả năng hấp thu curcumin ở người và động vật là rất thấp, làm cho việc sử dụng curcumin gặp nhiều trở ngại.
Nhờ vào những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật. Nhiều phương pháp đã được giới thiệu nhằm cải thiện tính khả dụng của curcumin như: kết hợp với Poly(lacto- co-glycolic acid), bao gói trong liposome, hoặc cyclodextrin, kết hợp với piperine… Trong đó, việc ứng dụng công nghệ nano vào curcumin đang là một hướng đi mới, đầy tiềm năng trong việc giải quyết vấn đề đang gặp phải. Hệ thống hạt nano curcumin có nhiều ích lợi đa khía cạnh trong sự dẫn truyền thuốc. Mặc dù vậy, việc ứng dụng công nghệ nano vào sản phẩm cũng gặp không ít khó khăn vì quá trình sản xuất tạo sản phẩm có thể ảnh hưởng đến các tính chất vốn có của hạt nano.
Nhằm phát triển một hướng ứng dụng mới trong việc sử dụng nano curcumin, nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục tiêu tạo sản phẩm sữa bột có bổ sung nano curcumin làm thực phẩm chức năng; theo phương thức kết hợp nano curcumin với sữa gầy, lựa chọn các thông số thích hợp cho quy trình sản xuất sữa bột sản phẩm bằng phương pháp sấy phun và ứng dụng sản phẩm lên mô hình chuột gây tổn thường gan bằng tác nhân oxy hóa mạnh Carbon Chloride (CCl4) để đánh giá hoạt tính sinh học của sản phẩm. 1 Phan Thành Phát Tổng quan tài liệu CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Curcumin và sự tổng hợp curcumin Curcuma longa L (nghệ) được trồng rộng rãi ở khu vực nhiệt đới và bán nhiệt đới trên thế giới. Quốc gia sản xuất nghệ lớn nhất là Ấn Độ, nơi được mệnh danh là ngôi nhà chữa bệnh trong hàng chục năm [1].
Tùy thuộc vào nguồn gốc và điều kiện đất đai, củ nghệ có chứa 2 – 9% curcuminoids. Curcuminoid là một nhóm hợp chất bao gồm curcumin, demethoxycurcumin, bis-demethoxycurcumin và curcumin vòng. Trong số đố, curcumin là thành phần chính và curcumin vòng là thành phần chiếm tỷ lệ rất thấp. Các vùng trên curcumin.
A) b-diketo hoặc keto-enol; B) phenolic; C) alkele linker Một thế kỷ sau khi curcumin được tách chiết từ nghệ, bài báo đầu tiên về sự tổng hợp curcumin đã được công bố bởi Lampe vào năm 1913 [2]. Phương pháp này bao gồm 5 bước bắt đầu từ carbomethoxyferuloyl chloride và ethyl acetoacetate. Rao và Sudheer đã đề nghị việc sử dụng trifluoroboronite và sản xuất curcuminoid trifluorboronites có thể thủy phân trong methol tại pH 5.8 để thu nhận curcumin. 2 Phan Thành Phát Tổng quan tài liệu Trong các phương pháp này, bước chủ yếu nhất là phản ứng của 2,4- diketones với aromatic aldehyde thích hợp.
Để ngăn chặn sự tham gia của diketone trong quá trình kết tụ Knoevenagel , boron đã được thêm vào. Một số amine sơ cấp và thứ cấp cũng đã được sử dụng làm chất xúc tác để cung cấp base cần thiết cho sự khử proton của nhóm alkyl trên diketone. Để loại bỏ nước được sản sinh ra trong quá trình ngưng tụ, cần thiết phải sử dụng alkyl borate để ngăn chặn sự giảm hiệu suất của phản ứng. Curcumin từ phản ứng này có thể được phân tích bằng cách rửa và tủa, theo sau đó là sắc ký cột.
Phản ứng tổng hợp curcumin theo phương pháp của Pabon được thể hiện theo Hình 2. Sự tổng hợp curcumin bằng phương pháp Pabon 2. Đặc tính cấu trúc của curcumin Curcumin là một phân tử đối xứng, cũng được biết đến với tên gọi diferuloyl methane. Tên IUPAC của curcumin là (1E,6E)-1,7-bis(4-hydroxy-3- methoxyphenyl)-1,6-heptadiene-3,5-dione, với công thức hóa học là C12H20O6, và khối lượng phân tử 368.
Nó có 3 trạng thái tồn lại trong cấu trúc: 2 hệ thống vòng acromatic có chứa nhóm o-methoxy phenolic, liên kết với một carbon có chứa 1 tiêu phần α,β-unsaturated β-diketone [4]. 3 Phan Thành Phát Tổng quan tài liệu Hình 2. Cấu trúc hóa học của curcumin Nhóm diketo có trạng thái tautomer keto-enol, làm cho nó có thể tồn tại ở các dạng các nhau tùy thuộc vào môi trường [5]. Ở trạng thái tinh thể, nó tồn tại ở dạng cis-enol, được ổn định bởi sự cộng hưởng của liên kết hydrogen và cấu trúc bao gồm 3 nhóm tiểu phần nội liên kết thông qua 2 liên kết đôi.
Trong hầu hết các dung môi không phân cực và ít phân cực trạng thái enol thường ổn định hơn so với trạng thái keton. Do sự kết hợp kéo dài (extended conjugation), đám electron π sẽ bao bọc quanh phân tử. Trong dung dịch, nó tồn tại ở trạng thái isomer cis-trans nơi mà dạng trans có 2 nhóm phenolic-methoxy trên phía đối diện của khung xương curcumin ổn định hơn so với dạng cis, nơi nhóm phenolic methoxy ở cùng bên của khung xương. Moment lưỡng cực của curcumin là 10.
Curcumin là một phân tử kỵ nước với giá trị logP khoảng 3. Nó hầu như không tan trong nước và tan dễ dàng trong các dung môi phân cực như DMSO, methanol, ethanol, acetonitrile, chloroform, ethyl acetate,… Curcumin ít tan trong các cung môi hydrocarbon như cyclohexane và hexane. Dãy hấp phụ của curcumin có 2 band hấp phụ mạnh, một ở vùng khả kiến với đỉnh cực đại từ 410 đến 430 nm và band còn lại ở vùng UV với đỉnh cực đại ở vùng 265nm. Hệ số hấp thụ mole (molar extinction coefficient) của curcumin trong methanol là 55,000 dm3.
Curcumin là một acid Brönsted yếu, với 3 proton không ổn định, và 3 giá trị pKaS đã được ước tính theo 3 điểm cân bằng proton (Hình 2. Các phương pháp công hưởng từ hạt nhân (NRM) và quang phổ hấp phụ đã được sử dụng để ước tính giá trị pKa. Giá trị pKa đầu tiên 4 Phan Thành Phát Tổng quan tài liệu nằm trong vùng 7.5 làm thay đổi curcumin từ vàng sang đỏ. Phản ứng hóa học và khả năng hòa tan của curcumin dạng anion trong vùng pH base được gia tăng và dạng curcumin này tan trong nước tốt hơn so với dạng trung tính.
Giá trị hấp thu cực đại của curcumin deproton hóa toàn bộ (màu đỏ) trong pH kiềm (>10) là 467nm và hệ số hấp thụ mole là 53,000 dm3. Hiện nay vẫn còn những tranh cãi về một trong số 3 nhóm như là enolic OH hoặc phenolic OH là acid nhất. Mặc dù việc tính toán cho thấy rằng enolic OH là nhóm acid nhất, nhưng sự thay đổi phổ hấp thu phụ thuộc vào pH gây khó khăn cho việc phân biệt giữa 2 proton. Từ nghiên cứu H-NRM của Borsari và cs (2002), giá trị pKa được đề nghị là 12.5 cho sự deproton hóa của proton enolic và giá trị pKa còn lại là 13.6 cho proton phenolic [6].
Tuy nhiên, những giá trị proton enolic này lại rất khác nhau giữa các báo cáo thực hiện bằng những phương pháp khác nhau. Dung dịch nước của curcumin có thể được chuẩn bị bằng cách thêm các chất hoạt động bề mặt, lipid, albumins, cyclodextrins, biopolymers… Dung dịch mixen sử dụng chất hoạt động bề mặt là thích hợp nhất cho việc chuẩn bị dung dịch curcumin nồng độ cao trong nước [5]. Tuy nhiên, khi sử dụng các chất hoạt động bề mặt trong hệ thống sinh học, cần phải cẩn thận tiến hành các thí nghiệm đối chứng vì chất hoạt động bề mặt có thể ảnh hướng đến các nghiên cứu sinh học. Các phản ứng của curcumin Curcumin có 3 nhóm chức năng phản ứng: 1 nhóm diketone, và 2 nhóm phenolic [7].
Phản ứng hóa học quan trọng có liên quan đến hoạt tính sinh học của curcumin là phản ứng cho hydrogen dẫn đến sự oxi hóa của curcumin, phản ứng thêm nucleophilic thuận nghịch (irreversible nucleophilic addition) và không thuận nghịch (phản ứng Michael), thủy phân, phân hủy và phản ứng enzyme. Tất cả những phản ứng trên đều có vai trò trong các hoạt động khác nhau của curcumin. Phản ứng với ROS Curcumin đã được nhận thấy là một chất có khả năng dò tìm hầu hết các gốc oxy hóa tự do (ROS – Reactive Oxygen Species), một đặc tính làm cho curcumin trở thành một chất có hoạt động chống oxy hóa trong tế bào. ROS có chứa cả chất oxy hóa gốc tự do và chất oxy hóa phân tử [8].
Các chất oxy hóa tự do tham gia vào 5 Phan Thành Phát Tổng quan tài liệu việc thu nhận hydrogen và các phản ứng vận chuyển electron. Tất cả 3 vị trí hoạt động của curcumin đều có thể bị oxy hóa do sự chuyển electron hay khử - nhận hydrogen. Trong suất phản ứng của gốc tự do, hydrogen dễ bị lấy đi nhất của curcumin là từ -OH của nhóm phenolic, dẫn đến sự hình thành các gốc phenoxyl, được ổn định cộng hưởng thông qua cấu trúc keton-enol (Hình 2. Ví dụ như phản ứng của gốc tự do peroxy với curcumin làm sản xuất gốc tự do curcumin phenoxyl, ít phản ứng hơn so với gốc peroxyl và do đó dẫn đến sự bảo vệ khỏi stress oxy hóa do ROS [9].
Phản ứng hồi phục gốc tự do phenoxyl thành curcumin bởi các chất chống oxy hóa tan trong nước như ascorbic acid, giúp curcumin trở về với hoạt tính chống oxy hóa ban đầu. Phản ứng của curcumin với các gốc tự do superoxide đã được nhận thấy hiệu quả như các chất chống oxy hóa tan trong lipid và phản ứng dẫn đến sự phân hủy superoxide do xúc tác mà curcumin đóng vai trò như là một superoxide dismutase [10]. Các vị trí tấn công của curcumin với gốc tự do và sự khôi phục nhờ vào Ascorbic acid. Trong số những phân tử oxy hóa, phản ứng với peroxynitrite, hydrogen peroxide là những phản ứng thường thấy nhất.
Trong một vài mô hình sinh học, curcumin đã được nhận thấy có khả năng bảo vệ tế bào dưới điều kiện dư thừa sự sản sinh các phân tử oxy hóa này. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu làm rõ 6 Phan Thành Phát Tổng quan tài liệu phản ứng hóa học và nhận diện các sản phẩm của phản ứng với các chất oxy hóa trên. Một số nghiên cứu đã công bố cho rằng curcumin có thể ngăn chặn sự hình thành nitrotyrosine và đóng vai trò quan trọng như là một chất chống oxy hóa với stress oxy hóa gây ra bởi peroxynitrite.