phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được trình bày như sau: Chƣơng 1. Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa – Cuốn sách giáo khoa viết bằng chữ Nôm đầu thế kỷ XX. Luận văn Thạc si ̃ - Ngành Hán Nôm 12 z Lê Thị Hồng Dung – Khảo cứu Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa 1.1 Về mặt văn bản học 1.1 Mô tả văn bản: 1.2 Vài nét về tác giả Ngô Giáp Đậu 1.2 Mục đích giáo dục của Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa 1.3 Phương pháp giáo dục trong Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa 1.4 Nội dung giáo dục trong Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa Chƣơng 2 Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa trong dòng thảo luận kinh điển Nho gia 2.1 Cách diễn Nôm trong Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa 2. Cách làm toát yếu trong Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa 2.3 Giá trị tác phẩm 2.1 Giá trị tư liệu 2.2 Giá trị tư tưởng Luận văn Thạc si ̃ - Ngành Hán Nôm 13 z Lê Thị Hồng Dung – Khảo cứu Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa CHƢƠNG 1 SÁCH MẠNH HỌC BẬC CAO TRUNG HỌC GIÁO KHOA- CUỐN SÁCH GIÁO KHOA VIẾT BẰNG CHỮ NÔM ĐẦU THẾ KỶ XX 1.1 Về mặt văn bản học 1.1 Mô tả văn bản: Trong kho sách của Viện nghiên cứu Hán Nôm có một văn bản tên là Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa ký hiệu AB.
290, viết bằng chữ Nôm. Văn bản này đã được giới thiệu trong hai cuốn sách Di sản Hán Nôm – Thư mục đề yếu, và Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Trong cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam- Thư mục đề yếu của Trần Nghĩa và F.GROS đã giới thiệu: [2928]. Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa, Ngô Giáp Đậu, Đốc học Nam Định diễn Nôm năm Duy Tân Quý Sửu (1913), một bản viết, 358 tr, 30x15,5, một tựa, AB.
Diễn Nôm sách Mạnh Tử có chú thích và lời bình. Trong cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp đã giới thiệu: Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa, Ngô Giáp Đậu diễn Nôm, 358 tr, chữ viết, toàn Nôm, 1 tựa. Diễn Nôm chính văn sách Mạnh Tử, có chú thích và bình luận các chương như luân lý, tu thân, văn học, chính trị… Qua khảo sát tư liệu, chúng tôi tìm thấy một bản chép tay của tác giả Ngô Giáp Đậu, ký hiệu AB.290 được lưu giữ tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trên thực tế số trang của sách là 360 trang, có sự sai biệt so với sự thống kê trong hai cuốn sách Di sản Hán Nôm Việt Nam- Thư mục đề yếu và Tìm hiểu Luận văn Thạc si ̃ - Ngành Hán Nôm 14 z Lê Thị Hồng Dung – Khảo cứu Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa kho sách Hán Nôm là chỉ có 358 trang.
Mỗi trang có 9 dòng, viết theo lối từ phải sang trái, mỗi dòng khoảng 20 chữ. Kết thúc mỗi chương, mỗi thiên, hay mỗi ý tiểu kết, tác giả đều sang dòng. Văn bản được viết tay theo lối chữ chân, dễ đọc, chữ khá đẹp và rõ ràng. Số trang văn bản khá lớn, nên đôi khi tác giả có sự nhầm lẫn về thứ tự chữ, và được sửa bằng một dấu móc.
Văn bản có dấu ngắt, nét bút từ phần đầu sách đến trang 187 đậm, nét bút phần sau thanh mảnh hơn. Về vấn đề tác giả của Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa rất rõ ràng, thể hiện trong bài tựa của chính tác giả. Trong bài tựa dài 6 trang, ở cuối trang thứ 5 dòng thứ 9, và trang thứ 6 dòng thứ 1, tác giả viết: 南定督学碎羅吳 甲豆號羅青淵謹爫排序 “Nam Định đốc học tôi là Ngô Giáp Đậu, hiệu là Thanh Uyên, cẩn làm bài tựa”. Luận văn Thạc si ̃ - Ngành Hán Nôm 15 z Lê Thị Hồng Dung – Khảo cứu Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa Niên đại tác phẩm cũng được xác định rõ trong bài tựa, ở trang thứ 5 dòng thứ 8, tác giả viết: 渃大南號維新次罢癸丑仲冬“Nước Đại Nam hiệu Duy Tân thứ bảy, năm Quý Sửu, tháng trọng đông”.
Như vậy, tác phẩm được biên soạn vào tháng 11 âm lịch năm 1913. Nội dung chính của tác phẩm như tác giả giới thuyết trong bài tựa, đó là: “Nay đem chính văn sách Mạnh Tử, chia làm năm điều: Một là Luân lý, hai là Tu thân, ba là Văn học, bốn là Chính trị, năm là Bình sinh thầy Mạnh. Đề mặt sách là Học Mạnh giáo khoa, giảng giải cũng như lối thích sách Luận ngữ, và lại đem việc nước Nam phụ bàn vào trong các điều, gọi là để bạn ta xem việc dùng chữ cho tiện đấy thôi” Mục thứ nhất là Luân lý 倫理, mục luân lý có bảy điều, phần này tác giả bàn về các việc cha con, vua tôi, anh em, vợ chồng, bè bạn, việc đôn luân, bội luân, sau đó lại phụ bàn việc nước Nam vào theo lối dĩ sử chứng kinh. Mục thứ hai là Tu thân 須身, mục Tu thân có ba mươi ba điều, bàn về các điều như tâm tính, lương quý, lễ trọng, minh thiện thành thân, lạc thiện vong thế, tôn đức lạc nghĩa, thiện ngôn thiện đạo, phản kỷ, ngôn, hành, việc cư xử, việc sinh tử, biết thẹn, muốn tiếng khen tốt, bắt chước điều phải, tự lập, đại nhân, việc đại trượng phu, quốc lạc, biện việc thiện lợi, việc thị tài, sự hiếu cao, thanh văn, việc ¹.
Dĩ sử chứng kinh là phương pháp dùng thực tế lịch sử để thảo luận, chứng minh sự đúng đắn của kinh điển. Trong kinh điển Nho gia đã dạy những nguyên tắc về chính trị, đạo đức. những điều được nêu trong kinh điển được xem là chân lý, là kim chỉ nam, theo những nguyên tắc đó thì trị, không theo thì loạn. Rồi chuyện họa phúc, thiện ác.
Bằng thực tế lịch sử, bằng nhân vật và sự kiện xảy ra trong thực tế đã được nhiều người chứng kiến và thừa nhận, người thảo luận chứng minh rằng kinh điển là đúng đắn. Đây là một cách luận giảng về kinh điển, dùng dẫn chứng thực tế để cho thấy nghĩa lý kinh điển là đúng đắn, cần theo. Luận văn Thạc si ̃ - Ngành Hán Nôm 16 z Lê Thị Hồng Dung – Khảo cứu Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa đã phiên (cầu phú quý lợi đạt), biện việc nội ngoại… Cuối mục, tác giả nêu suy nghĩ, nhận xét của mình qua phần Tổng bàn lại. Mục thứ ba là Việc học 役學, gồm có bảy điều, như bàn về việc học, việc dùng người khác đạo, bàn việc đạo thống, việc giao tế, sĩ chỉ… Mục thứ tƣ là Chính trị 政治, bàn về: căn bản các sự chính trị, nghĩa lý, việc tranh cạnh, việc truyền tập, việc học vấn, lời nghị luận.
Mục thứ năm là Sinh bình thầy Mạnh 生平柴孟, bàn về việc hiền học, việc giao tế, việc bình luận. Kết thúc là phần Phụ luận về văn học, chính sự của tác giả, đem việc nước Nam phụ bàn vào, theo phương pháp dĩ sử chứng kinh¹. Trong cách trình bày của tác giả, sau mỗi chương đều có sự tổng kết ý từng chương, nhấn mạnh ý trọng tâm của chương đó, giúp cho người đọc có thể nắm được đại ý của văn bản, khắc sâu những điều cốt lõi, để trầm tiềm nghĩa lý sâu xa trong sách Mạnh Tử.1 Tóm tắt nội dung tác phẩm Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa Tên mục Số trang Nội dung chính các mục Bài tựa Tr 1 đến tr 6 (6 trang) Mục thứ nhất: Tr 7 đến tr 47 Việc vua tôi, cha con, bè bạn, vợ Luân lý có 7 (41 trang) chồng, anh em, đôn luân, bội luân điều Mục thứ hai: Tr 48 đến tr Tâm tính, lương quý,lễ trọng, minh Luận văn Thạc si ̃ - Ngành Hán Nôm 17 z Lê Thị Hồng Dung – Khảo cứu Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa Tu thân có 33 120. thiện thành thân, lạc thiện vong điều (73 trang) thế, tôn đức lạc nghĩa, thiện ngôn thiện đạo, phản kỷ, ngôn, hành, việc cư xử, bắt chước điều phải, việc sinh tử, biết thẹn, muốn tiếng khen tốt, bắt chước điều phải, tự lập, đại nhân, việc đại trượng phu, quốc lạc, biện việc thiện lợi, việc thị tài, sự hiếu cao, thanh văn, việc đã phiên (cầu phú quý lợi đạt), biện việc nội ngoại… Mục thứ ba: Tr 121 đến Việc học, việc dùng người khác Việc học có tr186 đạo, bàn việc đạo thống, việc giao bảy điều (66 trang) tế, sĩ chỉ… Mục thứ tư: Tr 187 đến tr Căn bản các sự chính trị, nghĩa lý, Chính trị 318 việc tranh cạnh, việc truyền tập, (132 trang) việc học vấn, lời nghị luận Mục thứ năm: Tr 319 đến tr Việc hiền học, việc giao tế, việc Sình bình thầy 351 bình luận Mạnh (33 trang) Phụ luận Tr 352 đến tr Văn học, chính sự 360 (9 trang) Luận văn Thạc si ̃ - Ngành Hán Nôm 18 z Lê Thị Hồng Dung – Khảo cứu Sách Mạnh học bậc cao trung học giáo khoa Qua bảng thống kê chúng ta thấy mục Chính trị chiếm dung lượng lớn của tác phẩm với 132/ 360 trang, và mục Tu thân chiếm 73 trang, việc học chiếm 66 trang.
Sự phân chia dung lượng của các chương mục trước hết là do cách sắp xếp mang tính chất chủ quan của tác giả khi lựa chọn các thiên trong từng mục chủ đề của tác phẩm. Sự sắp xếp này hoàn toàn khác biệt so với cách sắp xếp tuân theo thứ tự chương mục trong chính văn sách Mạnh Tử của Tứ thư ước giải. Cách sắp xếp chú trọng nội dung mục chính trị thể hiện dụng ý của tác giả, cũng như thể hiện ý nghĩa của kinh điển sách Mạnh Tử đã chú trọng hơn đến vấn đề chính trị xã hội, dụng chính-ngoại vương, bên cạnh việc đặc biệt quan tâm đến việc tu dưỡng cá nhân-nội thánh như thời Khổng Tử.2 Vài nét về tác giả Ngô Giáp Đậu Trong cuốn Tên tự hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của Trịnh Khắc Mạnh, ký hiệu VV03159, đã giới thiệu về tác gia Ngô Giáp Đậu. Ngô Giáp Đậu (1853-?), tên tự là Hiếu Liêm, hiệu là Tam Thanh và Sự Sự Trai, người xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Thanh Trì, Tp.
Ngô Giáp Đậu thi đỗ Cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu Thành Thái 3 (1891). Ông giữ các chức quan như: Giáo thụ phủ Hoài Đức, Đốc học Nam Định. Trong tác phẩm Thanh Oai Ngô Gia thế phả 青威吳家世譜, do chính Ngô Giáp Đậu biên soạn, ký hiệu A.648, là bản gốc của Viện Viễn Đông bác cổ trước đây, đáng tiếc nay đã mất, tác giả đã lược tả hành trạng của vợ tác giả và con tác giả.