MỞ ĐẦU Hiện nay, tài nguyên rong biển đang được quan tâm khai thác và đã có đóng góp giá trị kinh tế lớn so với nhiều ngành sản xuất khác, hoạt động nuôi trồng và khai thác tài nguyên rong biển khá phổ biến ở nhiều quốc gia ven biển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Úc, Philippines, Malaysia,. Với đường bờ biển dài hơn 3.260 km và diện tích biển hơn 1.000 km2, Việt Nam có tiềm năng lớn trong lĩnh vực kinh tế biển nói chung và hoạt động nuôi trồng và khai thác tài nguyên rong biển nói riêng. Đa dạng sinh học rong biển Việt Nam hiện có hơn 827 loài, trong đó có nhiều loài rong kinh tế thuộc các ngành rong đỏ (Rhodophyta), rong nâu (Phaeophyceae), rong lục (Chlorohophyta) (Nguyễn Văn Tú và CS., 2013, Nguyễn Xuân Vị và CS. Vùng biển miền Trung Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của rong biển, nhiều khu vực ghi nhận được sinh lượng rong biển lớn với số loài rong được khai thác cho các mục đích tiêu dùng và thương mại.
Sinh lượng tự nhiên một số loài ước tính gồm rong Mơ (Sargassum sp.000 tấn tươi/năm, rong Câu rễ tre (Gelidiella acerosa) khoảng 110 tấn tươi/năm, rong Câu chỉ (Gracilaria tenuistipitata) 46 tấn tươi/năm, rong Câu chân vịt (Hydropuntia eucheumatoides) 20,5 tấn tươi/năm, rong Câu cước (Gracilariopsis heteroclada) 56 tấn tươi/năm, rong Câu cong (Gracilaria arcuata) 15 tấn tươi/năm, Gracilaria edulis 8 tấn tươi/năm, rong Câu đốt (Gracilaria salicornia) 12 tấn tươi/năm, Hydropuntia ramulosa 1,2 tấn tươi/năm (Lê Như Hậu và Nguyễn Hữu Đại, 2007). Một số loài cũng được thu nhận sinh khối lớn gồm một số loài thuộc các chi rong Acanthophora, Ahnfeltiopsis, Betaphycus, Eucheuma, Gelidiopsis, Gelidium, Hypnea, Kappaphycus, Laurencia, Pallisada, Turbinaria, Pyropia, Caulerpa, Codium và Ulva. 1 Cù Lao Chàm nằm trong khu vực có sự đa dạng sinh học rong biển khá cao, và là cụm đảo có tính chất quan trọng trong hoạt động bảo tồn biển và khai thác du lịch ở tỉnh Quảng Nam. Nghiên cứu một số loài rong biển kinh tế phổ biến ở Cù Lao Chàm là cơ hội để đánh giá mức độ đóng góp của các loài rong biển kinh tế vào vấn đề sinh kế, duy trì và phát triển nguồn lợi rong biển nói riêng, nguồn lợi thủy sản nói chung góp phần vào xây dựng các quy định chính sách phát triền bền vững một trong những khu vực bảo tồn biển (KBTB) quan trọng của Việt Nam.
❖ Mục tiêu của đề tài Xác định một số loài rong biển kinh tế quan trọng và các đặc trưng phân bố của chúng ở khu vực Cù Lao Chàm. ❖ Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Thu thập thông tin, dữ liệu, mẫu vật về rong biển kinh tế ở Cù Lao Chàm. Nội dung 2: Đánh giá về đặc điểm phân bố, nguồn lợi các nhóm rong biển kinh tế quan trọng ở Cù Lao Chàm. Nội dung 3: Đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn lợi rong biển kinh tế tại Cù Lao Chàm.
❖ Những đóng góp của luận văn Kết quả nghiên cứu đã xác định được 42 loài rong biển kinh tế với tiềm năng ứng dụng khá đa dạng trong lĩnh vực thực phẩm, lĩnh vực y – dược, lĩnh vực nông nghiệp, và một số ứng dụng tiềm năng khác. Các nhóm rong có giá trị sử dụng cao gồm rong Mơ (Sargassum), rong Nho (Caulerpa), rong Mứt (Pyropia) và rong Đông (Gelidiellaceae). Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn đã cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc khai thác bền vững, sử dụng hợp lý nguồn lợi rong biển tại Cù Lao Chàm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI CÙ LAO CHÀM 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm được thành lập theo Quyết định số 888/QĐ-UBND ngày 24 tháng 3 năm 2006 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam [1].
Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm gồm 7 đảo: Hòn Lao, Hòn Cụ, Hòn Khô, Hòn Lá, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Tai. Tọa độ địa lý phạm vi đảo: Vĩ độ: 15052’30”N - 16000’00”N; Kinh độ 108024’00”E đến 1080 33’30” E Tổng diện tích Khu Bảo tồn biển: 23.500 ha (235 km 2) được chia thành các phân vùng chức năng như sau: Vùng bảo vệ nghiêm ngặt: Hòn Tai, Hòn Lá, Hòn Dài, Hòn Mồ, và hệ sinh thái rạn san hô trên toàn bộ vùng biển Cù Lao Chàm. Vùng phục hồi sinh thái: Một số khu vực ngoài vùng bảo vệ nghiêm ngặt, có hệ sinh thái biển đã bị tổn thương do hoạt động khai thác trái phép nguồn tài nguyên thủy sản và sử dụng các ngư cụ trái quy định đã gây tác hại xấu đến hệ sinh thái. Đây là nguồn bổ sung cho vùng bảo vệ nghiêm ngặt trong tương lai.
Vùng phát triển du lịch: Du lịch phát triển chính trên đảo Hòn Lao, một số vị trí thuộc đảo khác cho khai thác giới hạn các dịch vụ xem san hô, hệ sinh thái biển bằng tàu đáy kính, lặn có khí tài, snorkeling. Các dịch vụ khác như lướt ván, đua thuyền buồm, trò chơi nước được giới hạn hoạt động trong khu vực đảo Hòn Lao. Bản đồ vị trí địa lý Cù Lao Chàm (Nguồn: http://maps.2 Đặc điểm khí hậu Cù Lao Chàm nằm trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, mùa Đông ít lạnh. Nhiệt độ trung bình năm 26,10C.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa khô bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 8 hàng năm. Chế độ mưa mang những đặc điểm chung cơ bản của vùng đồng bằng ven biển Trung bộ với số ngày mưa trung bình 130 ngày, chiếm 36,2% số ngày trong năm. Độ ẩm không khí tương đối trung bình từ 80 – 90%. Độ ẩm cao nhất vào tháng 12 và thấp nhất vào tháng 7 hàng năm.
Số giờ nắng trung bình nhiều năm tại Cù Lao Chàm là 2.200 giờ với tháng cao nhất là tháng 7 và thấp nhất là tháng 12. Cù Lao Chàm có chế độ gió theo 2 mùa rõ rệt là từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, chủ yếu là gió hướng Bắc và từ tháng 5 đến tháng 9 là gió hướng Tây. Ngoài ra, còn có gió Đông và Đông Nam xen kẽ. Tốc độ gió trung bình từ 1,4 – 1,8 m/giây.
Thủy triều tại khu vực KBTB Cù Lao Chàm có chế độ bán nhật triều 2 lần lên xuống với biên độ triều chênh lệch không đáng kể [1].2 Tài nguyên sinh học đa dạng KBTB Cù Lao Chàm Theo dữ liệu nghiên cứu, điều tra và giám sát đa dạng sinh học đến năm 2021 từ khu BBT Cù Lao Chàm [1], vùng biển Cù Lao Chàm ghi nhận được 356,4 ha rạn san hô trong đó có 300 loài san hô mềm, độ phủ trung bình rạn san hô là 41%; có 5 loài cỏ biển hiện diện trong khu vực với diện tích ước tính khoảng 50 ha, độ phủ trung bình 15 – 25%; 91 loài rong biển, khoảng 270 loài cá, 97 loài động vật thân mềm, 11 loài động vật da gai và nhiều loài giáp xác. Rạn san hô: Theo khảo sát của Võ Sĩ Tuấn và CS (2004) [2], diện tích các rạn san hô tại khu vực KBTB Cù Lao Chàm ước tính khoảng 125 ha. San hô cứng có khoảng 261 loài thuộc 59 giống và 15 họ. San hô mềm có 15 loài thuộc 11 giống và 6 họ.
Các loài san hô thường thấy thuộc các giống Acropora, Montipora, Porites, Galaxea, Pachyseris, Lobophyton, Sinularia, Sarcophytum và Goniopora. Khu vực có sự giàu có về thành phần loài san hô là các khu vực phía Bắc gồm có Hòn Khô, Hòn Lá, Hòn Tai và Tây Bắc Hòn Mồ. Nguyễn Văn Long và CS (2008) [3] đã ghi nhận thêm 16 loài san hô cứng nâng tổng số loài ghi nhận tại khu vực KBTB Cù Lao Chàm là 277 loài thuộc 40 giống 17 họ. Tổng diện tích rạn san hô tại khu vực vùng lõi KBTB Cù Lao Chàm là 311,2 ha.
Nghiên cứu gần đây của Nguyễn Văn Long (2017) [4] đã xác định và thống kê được 292 loài san hô thuộc 23 họ san hô cứng tạo rạn thuộc vùng lõi KBTB Cù Lao Chàm. Các họ chiếm ưu thế về số lượng loài bao gồm Acroporidae, Faviidae, Merulinidae và Poritidae. Diện tích rạn san hô phân bố trong vùng lõi KBTB Cù Lao Chàm ghi nhận khoảng 356,4 ha. Trong đó, ven các đảo có diện tích 241 ha và rạn ngầm tập trung ở khu vực Rạn Lá, Đông Bắc Hòn Mồ và Rạn Mành ở độ sâu > 20m, chiếm 116 ha.
Theo kết quả giám sát rạn san hô tại KBTB Cù Lao Chàm của Lê Vĩnh 3 Thuận và CS (2016) [5] cho thấy độ phủ san hô tại khu vực vùng phát triển hợp lý (44,9%) cao hơn so với vùng bảo vệ nghiêm ngặt (40,2%). Độ phủ của san hô năm 2016 giảm 0,75% so với năm 2015. Trong đó, độ phủ san hô cứng phát triển tốt hơn 2% và độ phủ của san hô mềm giảm 3% so với năm 2015. Sức khỏe của rạn san hô KBTB Cù Lao Chàm đang phát triển ở mức khá (47,2%).
Thảm cỏ biển: Ở KBTB Cù Lao Chàm có 5 loài cỏ biển là các loài Halophila decipiens, Halophila ovalis, Halodule pinifolia, H. uninervis và Cymodocea rotundata. rotundata phân bố ở khu vực nước nông tại Bãi Bắc. pinifolia ghi nhận ở các khu vực có độ sâu từ 2 – 6 m còn loài H.
decipiens phân bố ở độ sâu 5 – 10 m [4]. Rong biển: Kết quả khảo sát của Võ Sĩ Tuấn và CS (2004) [2] ghi nhận khu vực KBTB Cù Lao Chàm có 47 loài thuộc 26 chi rong biển, các loài rong phổ biến thường thấy bao gồm: Colpomenia bullosa, C. sinuosa, Dictyota spp., và Rosenvingea spp. Nguyễn Văn Long và CS.
(2008) [3] bổ sung thêm 29 loài rong biển nâng tổng số loài ghi nhận được tại KBTB Cù Lao Chàm là 76 loài rong biển thuộc 4 ngành, trong đó có đề cập đến các loài rong mơ thường thấy là Sargassum binderi, S. Năm 2010, nghiên cứu của Hoàng Thị Ngọc Hiếu [6] ghi nhận được 49 loài rong biển thuộc 21 họ, trong đó có 31 loài rong biển có giá trị kinh tế. Kết quả nghiên cứu năm 2017 của Nguyễn Văn Long [4] và tổng hợp các nghiên cứu trước đó đã ghi nhận 91 loài rong biển thuộc 33 họ rong thuộc vùng biển Cù Lao Chàm. Các họ rong Dictyotaceae, Sargassaceae, Caulerpaceae, Galaxauraceae và Scytosiphonaceae chiếm ưu thế về thành phần loài.
4 Nguồn tài nguyên rong biển có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái biển cũng như ý nghĩa kinh tế của chúng. Rong biển đóng vai trò là sinh vật sản xuất trong chuỗi thức ăn; là nơi trú ẩn của các loài sinh vật; là chỉ thị sinh học cho môi trường biển; là nhà máy chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong chu trình vật chất [7].