Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Karki và cộng sự (2011) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyên đổi sang canh tác hữu cơ tại các trang trại chè ở Nepal. Nghiên cứu khảo sát 181 nông dân ở quận Ilam và Panchthar của Nepal, trong đó 86 nông dân là nông dân hữu cơ và 95 là nông dân thông thường.
Nghiên cứu áp dụng lý thuyết TRA, TAM và TPB; và sử dụng phân tích hồi qui tuyến tính đa biến và phân tích nhân tố EFA dé phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy khoảng cách đến thị trường tiêu thụ, tuổi, trình độ học van, liên kết với các tổ chức và diện tích có ảnh hưởng đến khả năng áp dụng sản xuất hữu cơ. Tương tự, phân tích nhân tố cho thấy nhận thức về môi trường, triển vọng thị trường tươi sáng, lợi ích kinh tế và ý thức về sức khỏe là những yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định chuyên đổi sang sản xuất hữu cơ của nông dân. Trong khi hoạch định các chương trình phát triển ngành chè hữu cơ ở Nepal, các nhà hoạch định chính sách nên xem xét sự hỗ trợ của các tô chức nông dân, cung cấp đào tạo cho nông dân và nâng cao nhận thức của nông dân về lợi ích môi trường, kinh tế và sức khỏe của canh tác hữu cơ.
Laosutsan và cs (2019) đã nghiên cứu xác định và điều tra các yếu tô anh hưởng đến việc áp dụng các quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) và việc ra quyết định sản xuất măng tây và ngô ngọt quy mô nhỏ của nông dân Thái Lan đề xuất khẩu. Trong nghiên cứu, tổng số 147 hộ nông dân trồng rau (lần lượt là 66 va 81 hộ trồng măng tây và ngô ngọt) được chọn ngẫu nhiên từ các khu vực chuyên canh rau. Hồi quy logistic nhị phân được sử dụng dé phân tích thông tin thu thập được từ cuộc khảo sát này. Kết quả cho thấy biến thu nhập là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc áp dụng GAP của nông dan trồng rau tham gia và yếu tố địa điểm có ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định xuất khâu của người trồng.
Ngoài ra, có thé thay rang dé tăng ty lệ áp dụng GAP một cách hiệu quả đối với những người trồng rau Thái Lan, các nhà xuất khẩu và các cơ quan chính phủ có liên quan có thê bắt buộc chứng nhận GAP. Theo Li va cs (2020), vai là một loại cây truyền thông được trồng ở miền Nam Trung Quốc. Phát triển bền vững ngành vải dựa vào việc áp dụng công nghệ của nông dân. Kỹ thuật ghép đầu dòng cho phép đưa ra những giống vải mới có chất lượng.
Việc các giống vải mới này chín sớm hơn hoặc muộn hơn so với giống truyền thống giúp giá vải ôn định. Bán các giống vải mới có thê tăng thu nhập của nông dân thông qua giá các loại vải chất lượng cao hơn và 6n định giá bằng cách giảm thời gian thu hoạch. Tuy nhiên, tỷ lệ nông dân áp dụng phương pháp ghép đầu là thấp và đến nay, hơn một nửa số cây vải ở Trung Quốc van là giống vải truyền thống. Nghiên cứu này khám phá các yêu tô ảnh hưởng đến việc áp dụng ghép đầu của nông dân trồng vải.
Sử dụng dit liệu sơ cấp do Hệ thống Nghiên cứu Nông nghiệp Trung Quốc về Vải và Nhãn (CARSLL) thu thập từ 567 hộ nông dân trồng vải, mô hình lựa chọn Binary logistic nhị phân được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng ghép đầu quả vải của nông dân trồng vải. Kết quả cho thấy những nông dân sở hữu vườn vải lớn hơn có nhiều khả năng áp dụng phương pháp ghép đầu hơn so với những nông dan sở hữu vườn nhỏ hơn. Tích lũy thông tin về cây vai, bao gồm cả kinh nghiệm và đào tạo, ảnh hưởng đáng kế đến mức độ áp dụng công nghệ của nông dân. Hơn nữa, thái độ tích cực đối với công nghệ cũng ảnh hưởng đáng kể đến các hành vi tiếp nhận công nghệ.
Usman va cs (2021) sử dụng dữ liệu thu thập từ Điều tra hộ gia đình chung Nigeria năm 2015, nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng nhiều Thực hành Nông nghiệp Bén vững, đồng thời xem xét các yếu tố thúc day cường độ áp dụng các thực hành này. Các phương pháp phân tích dữ liệu dựa trên mô hình probit đa biến và probit có thứ tự. Các Thực hành Nông nghiệp Bền vững được xem xét bao gồm hạt giống cải tiến, phân bón vô cơ, kỹ thuật trồng trọt hỗn hợp và phân hữu cơ. Kết quả thực nghiệm cho thấy việc nông dân áp dụng các Thực hành Nông nghiệp Bén vững khác nhau và cường độ sử dụng của chúng phụ thuộc đáng ké vào các yêu tô như tuôi của chủ hộ, giới tính, trình độ học vấn, quy mô hộ gia đình, khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông và tình trạng giàu có của hộ gia đình.
Phát hiện cua tác gia ngụ ý rằng các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan phát triển nông nghiệp nên tìm cách duy trì hoặc tăng cơ sở tài sản của hộ gia đình, đồng thời khuyến khích chương trình đào tạo cả chính thức và không chính thức giữa các hộ nông dan dé tạo điều kiện cho việc áp dụng Thực hành Nông nghiệp Bén vững. Aheisibwe và cs (2019) đã xác định các phương pháp quản lý táo và cũng kiểm tra các yêu tô ảnh hưởng đến quyết định áp dụng phương pháp quan lý táo của nông dân. Nghiên cứu khảo sát 52 hộ trồng táo ở các huyện Kabale, Kisoro, Kanungu và Rukungiri thuộc Tây Nam Tây Nguyên. Mô hình hồi quy Probit đã được sử dụng va quy trình ước tính tuân theo phương pháp Ước tính Khả năng Tối đa (MLE).
Kết quả từ thống kê mô tả chỉ ra rằng các phương pháp quản lý được áp dụng nhiều nhất bao gồm làm cỏ, uốn và khoanh cành, bón thuốc trừ sâu và làm rụng lá trong số những phương pháp khác. Kết quá hồi quy Probit cho thấy giới tính của nông dân, số quả trung bình trên cây, lực lượng lao động hộ gia đình, quy mô trang trại và khả năng tiếp cận tín dụng có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định áp dung AMP của nông dan (p <0,05) trong khi tuổi của nông dân, vị trí vườn cây ăn quả, sự cản trở của chim và nguồn thu nhập phi nông nghiệp có ảnh hưởng tiêu cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định áp dụng AMP của nông dân (p <0,05). Theo quan điểm trên, cần phải xác định và giải quyết sự khác biệt về giới tính về mức độ tham gia vào sản xuất táo nhằm vào nhiều phụ nữ hơn. Nghiên cứu cần đưa ra một phương pháp khắc phục hiệu quả nhưng giá cả phải chăng chống lại sâu bệnh, đặc biệt là các loài chim, các chiến lược thu hút và duy trì tuổi trẻ tham gia trồng táo cần được khám phá và thực hiện vì trồng táo là lao động và chủ yếu là nông dân già, nghiên cứu và khuyến nông cần phải khám phá những con đường phù hợp và hiệu quả về chi phi để nông dân tiếp cận tín dụng, thông tin nông nghiệp chính xác và chat lượng.
Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Minh Hà và cs (2020), với mục tiêu xác định các yếu tố tác động đến việc lựa chọn, áp dụng công nghệ tưới nước nhỏ giọt của các hộ trồng nho chuyên canh tại tỉnh Ninh Thuận, nghiên cứu sử dụng phân tích định lượng với mô hình hồi quy Binary Logistic và khảo sát 480 hộ trồng nho tại tỉnh Ninh Thuận trong năm 2016. Kết quả nghiên cứu đã tìm thấy 15 yếu tô có ý nghĩa thống kê tác động đến việc ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của hộ trồng nho gồm: Tuổi của chủ hộ, học vấn của chủ hộ, thành phần dân tộc của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, tham gia hội, đoàn thé, vay vốn dé đầu tư cho sản xuất, ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, diện tích đất trồng nho, số lao động của hộ tham gia trồng nho, khoảng cách về giao thông, khoảng cách về thủy lợi, thu nhập bình quân từ nho của hộ, kỳ vọng của hộ về năng suất khi hộ ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, sự hỗ trợ của Nhà nước khi hộ ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, biết thông tin về công nghệ tưới nhỏ giọt. Nguyễn Văn Nhân (2021) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ cấy máy trong sản xuất lúa tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Nghiên cứu đã khảo sát 98 nông hộ đã áp dụng công nghệ cấy máy trong sản xuất lúa tại 4 xã Vĩnh Viễn, Vĩnh Viễn A, Lương Tâm và Lương Nghĩa.
Nghiên cứu áp dụng lý thuyết TRA, TAM và TPB; và sử dụng phân tích hồi qui tuyến tinh đa biến va phân tích nhân tố EFA dé phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy các nhân tố Nhận thức sự hữu ích; Nhận thức kiểm soát hành vi; Khả năng áp dụng và Chính sách hỗ trợ có ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ cây máy trong sản xuất lúa tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Bùi Đức Hùng và cs (2021) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê vùng Tây Nguyên. Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi để thu thập số liệu tại tỉnh Đắk Lắk thuộc khu vực Tây Nguyên.
Tổng diện tích điều tra 404,8 ha chiếm 0,2% so với điện tích toàn tinh (204.808 ha niên vụ 2017-2018 theo Cục Thống kê Dak Lắk 2019. Trong đó diện tích cà phê ứng dụng công nghệ cao đạt 16% tương đương 32. Tổng số lượng mau điều tra là 250 phiếu. Trong nghiên cứu này, mô hình nhị phan Logistic được sử dung dé ước lượng các nhân tổ tác động đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất ca phê vùng Tây Nguyên.
Kết qua ước lượng chỉ ra rằng có bốn nhân tố tác động quan trọng đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê, gồm: độ tuổi, trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm và thể chế (gồm khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ mở rộng và tín dụng). Trong đó, nhân tố thé chế ảnh hưởng rõ nét nhất đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê.