Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xoài (Mangifera Indica) là một trong những loại cây ăn quả nhiệt đới quan trọng, được canh tác tại hơn 90 quốc gia trên thế giới với tổng diện tích ước tính khoảng 1,8 – 2,2 triệu ha. Trên thị trường quốc tế, mức độ tiêu thụ xoài đứng thứ hai trong các loại trái cây nhiệt đới, chỉ sau chuối. Giai đoạn từ năm 2001 đến 2010, sản lượng xoài toàn cầu đã tăng gấp đôi. Đến năm 2014, sản lượng xoài thế giới đạt khoảng 28,8 triệu tấn, chiếm 35% tổng sản lượng quả nhiệt đới toàn cầu; trong đó khu vực châu Á – Thái Bình Dương (Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Philippines, Thái Lan) đóng góp 69%, khu vực Mỹ Latinh và Caribe (Brazil, Mexico) chiếm 14%, và châu Phi chiếm 9%. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), sản lượng nhập khẩu xoài toàn cầu năm 2014 đạt 844.246 tấn (tăng 1,4%), trong đó Liên minh Châu Âu (EU) ghi nhận mức tăng trưởng nhập khẩu bình quân 2,5%/năm, đạt 223.662 tấn.

Tại Việt Nam, cây xoài được trồng tại 59/63 tỉnh thành với tổng diện tích vượt 100.000 ha. Thống kê năm 2010 cho thấy diện tích trồng xoài cả nước đạt 87.500 ha cùng sản lượng 574.000 tấn; vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ trọng lớn nhất với 43.100 ha (trên 49% diện tích cả nước), tiếp theo là vùng Đông Nam Bộ với 21.500 ha. Dù đứng thứ 13 thế giới về quy mô sản xuất, kim ngạch xuất khẩu xoài của Việt Nam vẫn nằm ngoài top 10 quốc gia hàng đầu. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế trong công nghệ sau thu hoạch, năng lực chế biến sâu và bảo quản, sản xuất còn mang tính manh mún, tỷ lệ áp dụng tiến bộ kỹ thuật chưa cao. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ ra rằng tổn thất sau thu hoạch đối với nhóm rau quả ở Việt Nam dao động từ 10% đến 30%. Đặc tính vỏ mỏng của trái xoài khiến việc bảo quản tươi và vận chuyển đường dài gặp nhiều rủi ro hư hại cơ học và thối rữa sinh học.

Thịt quả xoài chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cao: hàm lượng đường hòa tan đạt 10 – 15%, giàu Provitamin A (khoảng 3 mg/100g phần ăn được), Vitamin C (44 mg/100g), cùng các hợp chất polyphenol và enzyme sinh học. Việc ứng dụng công nghệ lên men vi sinh chuyển hóa dịch quả xoài thành đồ uống có cồn nhẹ vừa giúp giải quyết áp lực tiêu thụ nông sản tươi vào vụ thu hoạch chính, giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch, vừa tạo ra dòng sản phẩm giải khát giá trị gia tăng phù hợp với thị hiếu tiêu dùng tại vùng khí hậu nhiệt đới.

Đề tài đặt mục tiêu nghiên cứu các yếu tố công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lên men dịch xoài bằng chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae, từ đó xây dựng và hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất nước uống lên men từ trái xoài. Để hiện thực hóa mục tiêu này, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được triển khai theo văn bản bao gồm:

  1. Xác định các chỉ tiêu lý - hóa học ban đầu của dịch ép xoài nguyên liệu: nồng độ chất khô hòa tan (°Bx), pH, hàm lượng axit tổng số và độ nhớt động học.
  2. Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ enzyme pectinase bổ sung đến hiệu suất trích ly dịch quả và các đặc tính cảm quan của dịch lọc.
  3. Khảo sát các thông số công nghệ ảnh hưởng đến quá trình lên men rượu độ cồn thấp: nồng độ chất khô hòa tan ban đầu (°Bx), giá trị pH môi trường lên men, tỷ lệ bổ sung giống nấm men và thời gian lên men.
  4. Đề xuất quy trình công nghệ hoàn chỉnh sản xuất nước uống lên men từ trái xoài Mangifera Indica.
  5. Đánh giá chất lượng thành phẩm theo các chỉ tiêu cảm quan và an toàn vi sinh vật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nguyên liệu: Trái xoài cát chín (đạt độ chín vàng ươm, quả hình bầu dục, thịt quả nguyên vẹn, không bị tổn thương cơ học) có xuất xứ từ tỉnh Đồng Nai, thu mua tại chợ Rạch Dừa, thành phố Vũng Tàu.
  • Chủng vi sinh vật: Nấm men Saccharomyces cerevisiae (chủng men nổi, lưu giữ trên môi trường thạch nghiêng ở trạng thái tiềm sinh), do Phòng thí nghiệm Vi sinh – Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu cung cấp.
  • Không gian và thời gian: Thực nghiệm được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Vi sinh, Viện Kỹ thuật – Kinh tế Biển, Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu; thời gian thực nghiệm từ ngày 15/03/2017 đến ngày 31/05/2017 (thời gian thực hiện đồ án từ ngày 02/03/2017 đến ngày 25/06/2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đồ án dựa trên cơ sở sinh hóa của quá trình lên men cồn (glycolysis - con đường Embden-Meyerhof-Parnas). Dưới tác dụng xúc tác của phức hệ enzyme nội bào trong nấm men Saccharomyces cerevisiae (hexokinase, phosphoglucose isomerase, aldolase, pyruvate decarboxylase, alcohol dehydrogenase...), phân tử đường hexose (glucose, fructose từ dịch xoài và đường saccharose bổ sung được nghịch đảo bởi enzyme invertase) được chuyển hóa thành acid pyruvic, sau đó khử carboxyl tạo thành acetaldehyde và tiếp tục bị khử thành ethanol giải phóng khí $CO_2$. Nghiên cứu cũng dựa trên động thái sinh trưởng của vi sinh vật (gồm 4 pha: pha thích ứng - lag phase, pha lũy thừa - log phase, pha cân bằng - stationary phase, và pha suy vong - death phase) cùng các yếu tố công nghệ tác động đến hoạt tính của nấm men (nhiệt độ, pH, áp suất thẩm thấu của đường, nồng độ oxy hòa tan và nồng độ ethanol tích lũy).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai đồng bộ qua các kỹ thuật phân tích vi sinh, hóa sinh và cảm quan:

  1. Phương pháp vi sinh:
  • Nhân giống nấm men qua 2 cấp: Cấp 1 tăng sinh trong 150 ml môi trường Sabouraud lỏng trên máy lắc ngang tốc độ 120 vòng/phút trong 24 giờ; Cấp 2 cấy chuyển 3 ml dịch cấp 1 (tỷ lệ 2%) vào 150 ml môi trường bán dịch xoài (tỷ lệ 1:1 giữa môi trường Sabouraud và dịch xoài) nuôi cấy trong 24 – 30 giờ nhằm huấn luyện giống thích nghi với cơ chất dịch quả.
  • Xác định mật độ và tỷ lệ sống/chết của tế bào nấm men bằng buồng đếm hồng cầu (hemocytometer) dưới kính hiển vi quang học ở vật kính X10 và X40, sử dụng thuốc nhuộm xanh methylene. Công thức tính mật độ tế bào: $$N = \frac{a \times 4000 \times 1000}{h}$$ Trong đó: $N$ là số tế bào/ml mẫu; $a$ là số tế bào trung bình trong một ô nhỏ (thể tích $1/4000 \text{ mm}^3$); $h$ là hệ số pha loãng.
  1. Phương pháp hóa sinh:
  • Xác định nồng độ chất khô hòa tan (°Bx) bằng khúc xạ kế đo Brix quang học.
  • Xác định giá trị pH bằng thiết bị đo pH điện tử để bàn.
  • Xác định hàm lượng axit tổng số (tính quy đổi về acid citric, g/l hoặc %) bằng phương pháp chuẩn độ thể tích dung dịch mẫu đã pha loãng bằng kiềm chuẩn KOH 0,1N với chỉ thị màu phenolphtalein theo công thức: $$X_a = \frac{K \times B \times F \times 1000}{V}$$ Trong đó: $K = 0,0064 \text{ g/l}$ (hệ số đương lượng acid citric của 1 ml KOH 0,1N); $B$ là thể tích KOH 0,1N tiêu tốn (ml); $F$ là hệ số pha loãng; $V$ là thể tích mẫu chuẩn độ (ml).
  • Xác định độ nhớt động học ($\upsilon$) của dịch quả bằng nhớt kế mao quản Ostwald theo biểu thức: $$\upsilon = C \times t$$ Trong đó: $C = 0,035 \text{ mm}^2/\text{s}^2$ (hằng số nhớt kế); $t$ là thời gian chất lỏng chảy qua hai vạch chuẩn A và B (giây).
  • Xác định hàm lượng cồn (%V) bằng phương pháp chưng cất tách cồn từ 20 ml mẫu dịch sau lên men (bổ sung 100 ml nước cất), thu hồi nước ngưng vào bình định mức 50 ml và đo chỉ số khúc xạ bằng khúc xạ kế chuyên dụng đo độ cồn.
  1. Phương pháp đánh giá cảm quan:
  • Áp dụng phương pháp cho điểm thị hiếu theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3215–79. Thang đo gồm 6 bậc (từ điểm 0 đến điểm 5), đánh giá trên 3 chỉ tiêu chất lượng chính với các hệ số trọng lượng tương ứng: Mùi (hệ số trọng lượng 1,2), Vị (hệ số trọng lượng 2,0), Độ trong và màu sắc (hệ số trọng lượng 0,8). Tổng điểm cảm quan tối đa có trọng số là 20 điểm.
  1. Phương pháp xử lý số liệu:
  • Toàn bộ thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Số liệu thu thập được xử lý thống kê, tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích phương sai thông qua phần mềm Microsoft Excel và phần mềm Statgraphics Plus 3.0.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các tư liệu lý thuyết và công bố khoa học liên quan đến đề tài:

  • Trình bày vị trí phân loại học của cây xoài (Mangifera Indica thuộc giới Plantae, ngành Magnoliophyta, lớp Magnoliopsida, bộ Sapindales, họ Anacardiaceae, chi Mangifera). Phân tích đặc điểm nông học, điều kiện lập địa, khí hậu thích hợp (nhiệt độ 24 – 27°C, lượng mưa 500 – 1500 mm/năm, pH đất 5,5 – 7,5) và mô tả đặc tính sinh học của các giống xoài chủ lực tại Nam Bộ: xoài cát Hòa Lộc (400 – 600 g/quả, thịt dày, không xơ, ngọt thơm), xoài cát Chu (350 – 450 g/quả), xoài Bưởi (xoài ghép Cái Bè, 250 – 300 g/quả, vỏ dày), xoài Thơm, xoài Khiêu xa vơi.
  • Tổng hợp thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng trong 100g phần ăn được của quả xoài: Năng lượng 60 kcal, Nước 83g, Glucid 14,3g, Protid 0,6g, Lipid 0,1g, Xơ 1,9g, Calci 20mg, Magnesium 9mg, Kali 150mg, Sắt 1,2mg, Provitamin A 3mg, Vitamin C 44mg, Vitamin E 1,8mg cùng các vitamin nhóm B ($B_1, B_3, B_5, B_6, B_9$). Điểm lại các hợp chất có hoạt tính sinh học như mangiferin, quercetin, isoquercitrin, astragalin, fisetin, acid gallic.
  • Trình bày đặc điểm hình thái và sinh lý học của nấm men Saccharomyces cerevisiae: sinh vật nhân thực đơn bào, kích thước (3 – 8) x (5 – 12) µm, thành tế bào chứa glucan, mannan và kitin. Thành phần chất khô gồm Cacbon 49,8%, CaO 12,4%, Nito 6,7%, Hydro 3,54%, $P_2O_5$ 2,34%, $SO_3$ 0,42%, MgO 0,38%, $K_2O$ 0,04%, $Fe_2O_3$ 0,035%, $SiO$ 0,09%. Phân tích chi tiết chuỗi phản ứng sinh hóa chuyển hóa đường hexose thành ethanol và $CO_2$. Phân tích các yếu tố công nghệ then chốt kiểm soát quá trình lên men: oxy hòa tan, hàm lượng đường thích hợp (18 – 22%), nhiệt độ tối ưu (28 – 30°C), pH tối ưu (4,0 – 4,5), nồng độ cồn và mật độ tế bào nấm men. Điểm qua các ứng dụng truyền thống (bánh mì, bia, rượu vang) và các sản phẩm đồ uống lên men hiện đại từ trái cây.

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc nguyên vật liệu, hóa chất, thiết bị và các bước triển khai thực nghiệm:

  • Mô tả quy cách nguyên liệu xoài cát chín và chủng nấm men Saccharomyces cerevisiae.
  • Thiết lập sơ đồ quy trình bố trí thí nghiệm: Tiếp nhận quả xoài $\rightarrow$ Rửa sạch, gọt vỏ, tách hạt $\rightarrow$ Xay nhuyễn $\rightarrow$ Phối trộn nước theo tỷ lệ 1:1 $\rightarrow$ Xác định các chỉ tiêu hóa lý ban đầu $\rightarrow$ Xử lý enzyme pectinase (khảo sát các mức 0, 1, 2, 3, 4 ml/100g thịt quả, ủ ở 40°C trong 3 giờ) $\rightarrow$ Lọc dịch trong $\rightarrow$ Phối chế điều chỉnh dịch lên men (khảo sát độ Brix: 16, 18, 20, 22 °Bx; khảo sát pH: 3,6; 3,8; 4,0; 4,2) $\rightarrow$ Bổ sung dịch men giống đã nhân 2 cấp (khảo sát tỷ lệ: 1,0%; 1,5%; 2,0%; 2,5% V/V) $\rightarrow$ Lên men kỵ khí (khảo sát thời gian: 48h, 60h, 72h, 84h) $\rightarrow$ Lắng cặn, tách men $\rightarrow$ Tàng trữ $\rightarrow$ Chiết rót $\rightarrow$ Đánh giá chất lượng cảm quan và vi sinh vật của sản phẩm.
  • Chi tiết hóa quy trình thao tác và công thức tính toán của các phương pháp phân tích: buồng đếm hồng cầu, chuẩn độ kiềm KOH 0,1N xác định axit tổng, khúc xạ kế đo Brix và nồng độ cồn, đo độ nhớt bằng nhớt kế Ostwald, đo pH bằng máy đo điện tử, và thang điểm 20 đánh giá cảm quan theo TCVN 3215–79.

Chương 3. Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm và thảo luận kết quả nghiên cứu:

  1. Động học sinh trưởng của Saccharomyces cerevisiae: Khảo sát mật độ tế bào trong 96 giờ tại nhiệt độ phòng ghi nhận: pha lag kéo dài khoảng 12 giờ đầu; pha log tăng trưởng mạnh từ 12 đến 48 giờ; tại 48 giờ tổng mật độ tế bào đạt cực đại $5,00 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$ (trong đó tế bào sống đạt $4,70 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$, tế bào chết $0,10 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$); pha cân bằng duy trì từ 48 đến 72 giờ; sau 72 giờ tế bào bắt đầu bước vào pha suy vong (tại 90 giờ tế bào chết tăng lên $0,80 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$). Thời điểm thu nhận sinh khối giống tối ưu được xác định ở khoảng 24 – 30 giờ (mật độ tế bào sống đạt $4,40 \times 10^8 - 4,50 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$), đảm bảo khả năng thích nghi và hiệu lực lên men cao nhất.

  2. Đặc tính lý - hóa học của dịch ép xoài ban đầu:

  • Nồng độ chất khô hòa tan: dao động từ 10,33 ± 1,52 °Bx đến 11,33 ± 1,15 °Bx across các mẫu thử (trung bình ~10,88 °Bx).
  • Giá trị pH ban đầu: trung bình đạt 3,61 (mẫu 1: 3,67 ± 0,06; mẫu 2: 3,57 ± 0,06; mẫu 3: 3,60 ± 0,10).
  • Hàm lượng axit tổng số (tính theo acid citric): trung bình đạt 0,65% (mẫu 1: 0,65 ± 0,07%; mẫu 2: 0,69 ± 0,03%; mẫu 3: 0,60 ± 0,02%).
  • Độ nhớt động học: trung bình đạt 1,36 cts/s (mẫu 1: 1,38 ± 0,01 cts/s; mẫu 2: 1,38 ± 0,04 cts/s; mẫu 3: 1,33 ± 0,03 cts/s).
  1. Khảo sát hàm lượng enzyme pectinase xử lý dịch quả: Thí nghiệm ủ 100g thịt quả xoài (đã phối trộn nước) với enzyme pectinase ở 40°C trong 3 giờ cho thấy:
  • Mẫu đối chứng (0 ml enzyme): hiệu suất trích ly dịch chỉ đạt 75,00% (thu 75g dịch), dịch ép có màu vàng sậm, đục và nhiều cặn.
  • Bổ sung 1 ml enzyme: hiệu suất đạt 85,71% (thu 90g dịch từ 105g hỗn hợp), dịch còn đục.
  • Bổ sung 2 ml enzyme: hiệu suất đạt 87,50% (thu 105g dịch từ 120g hỗn hợp), dịch màu vàng tươi, còn cặn lơ lửng.
  • Bổ sung 3 ml enzyme: hiệu suất tăng vọt lên 95,83% (thu 115g dịch từ 120g hỗn hợp), dịch màu vàng tươi, trong suốt, lượng cặn rất ít.
  • Bổ sung 4 ml enzyme: hiệu suất đạt 96,66% (thu 116g dịch từ 120g hỗn hợp), mức tăng không đáng kể so với mẫu 3 ml nhưng độ trong có xu hướng giảm. Do đó, tỷ lệ 3 ml enzyme pectinase/100g thịt quả được chọn là tối ưu.
  1. Ảnh hưởng của nồng độ chất khô hòa tan (°Bx) ban đầu đến quá trình lên men: Thí nghiệm tiến hành lên men trong 72 giờ ở mật độ men $13,5 \times 10^8 \text{ tế bào/150 ml}$ với các mức đường ban đầu 16, 18, 20, 22 °Bx:
Nồng độ đường ban đầu (°Bx) Độ cồn sinh ra (%V) Đường sót sau lên men (°Bx) Điểm cảm quan trung bình (thang 20)
16 1,16 ± 0,28 5,00 ± 0,50 8,72
18 2,16 ± 0,28 5,67 ± 0,57 11,60
20 2,93 ± 0,11 6,33 ± 0,57 16,24
22 4,67 ± 0,57 7,67 ± 0,57 12,88

Mức 20 °Bx cho nồng độ cồn 2,93%V (đạt yêu cầu nước giải khát lên men 2,5 – 3,0%V), lượng đường sót 6,33 °Bx tạo vị ngọt dịu hài hòa với vị chua nhẹ, đạt điểm cảm quan cao nhất (16,24 điểm).

  1. Ảnh hưởng của pH ban đầu đến quá trình lên men: Cố định nồng độ đường 20 °Bx, tỷ lệ men giống 2,0%, thời gian lên men 72 giờ, khảo sát các giá trị pH: 3,6; 3,8; 4,0; 4,2:
Giá trị pH ban đầu Độ cồn sinh ra (%V) Đường sót sau lên men (°Bx) Điểm cảm quan trung bình (thang 20)
3,6 1,50 ± 0,50 7,33 ± 0,57 6,48
3,8 2,17 ± 0,28 6,33 ± 0,57 10,56
4,0 2,83 ± 0,28 5,33 ± 0,57 14,40
4,2 4,33 ± 0,20 7,00 ± 0,00 12,04

Tại pH = 4,0, nấm men hoạt động ổn định nhất, cồn tạo thành đạt 2,83%V, điểm cảm quan đạt 14,40 điểm. Ở pH = 3,6 hoạt tính men bị ức chế dẫn đến độ cồn thấp (1,50%V) và vị chua gắt; ở pH = 4,2 độ cồn tăng lên 4,33%V nhưng sản phẩm có mùi lạ do sự phát triển tạp nhiễm của vi khuẩn lactic, làm điểm cảm quan suy giảm.

  1. Ảnh hưởng của tỷ lệ men giống bổ sung: Khảo sát các tỷ lệ bổ sung dịch men giống cấp 2 (mật độ $4,5 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$) ở các mức 1,0%; 1,5%; 2,0%; 2,5% V/V (tương đương mật độ từ $6,75 \times 10^8$ đến $16,875 \times 10^8 \text{ tế bào/150 ml}$ dịch lên men):
Tỷ lệ men giống (% V/V) Độ cồn sinh ra (%V) Đường sót sau lên men (°Bx) Điểm cảm quan trung bình (thang 20)
1,0 1,00 ± 0,57 7,67 ± 1,52 7,28
1,5 2,17 ± 0,28 7,33 ± 0,57 10,08
2,0 2,50 ± 0,50 6,00 ± 1,00 16,40
2,5 4,67 ± 1,15 5,00 ± 1,00 12,32

Tỷ lệ nấm men 2,0% cho kết quả tốt nhất với nồng độ cồn 2,50%V, hàm lượng đường sót 6,00 °Bx và tổng điểm cảm quan đạt 16,40 điểm (vị hài hòa đạt 8,40/10, mùi đặc trưng đạt 4,80/6, màu sắc và độ trong đạt 3,20/4). Khi dùng tỷ lệ 2,5%, cồn tăng cao (4,67%V) nhưng hiện tượng tự phân của sinh khối nấm men do thiếu dưỡng chất làm phát sinh mùi lạ.

Chương 4. Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các giá trị thông số công nghệ tối ưu được xác lập cho quy trình chế biến nước uống lên men từ trái xoài và nêu các đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm hoàn thiện sản phẩm ở quy mô ứng dụng lớn hơn.


Kết quả và đóng góp

Đồ án đã xây dựng thành công quy trình công nghệ sản xuất nước uống lên men từ trái xoài (Mangifera Indica) ở quy mô phòng thí nghiệm với hệ thống thông số kỹ thuật được xác lập qua thực nghiệm:

Công đoạn công nghệ Thông số kỹ thuật tối ưu xác lập Kết quả chỉ tiêu đạt được
Tỷ lệ phối chế dịch ép Thịt xoài xay nhuyễn : Nước cất = 1 : 1 (khối lượng/khối lượng) Dịch xoài phân tán đều, giảm độ nhớt ban đầu
Thủy phân dịch quả bằng enzyme Bổ sung 3 ml enzyme pectinase/100g thịt quả; ủ ở 40°C trong 3 giờ Hiệu suất ép lọc đạt 95,83%; dịch trong, màu vàng tươi, cặn tối thiểu
Hiệu chỉnh nồng độ đường Bổ sung saccharose nâng nồng độ chất khô lên 20 °Bx Tạo cơ chất cân bằng áp suất thẩm thấu cho nấm men
Hiệu chỉnh pH môi trường Điều chỉnh pH đạt giá trị 4,0 Tối ưu hóa hoạt tính enzyme nấm men, ức chế vi khuẩn tạp nhiễm
Tỷ lệ nấm men giống bổ sung Bổ sung 2,0% V/V dịch men giống cấp 2 ($4,5 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$) Tương đương $13,5 \times 10^8 \text{ tế bào/150 ml}$ dịch lên men
Chế độ lên men kỵ khí Lên men tĩnh ở nhiệt độ phòng trong thời gian 72 giờ Độ cồn thành phẩm: 2,50 – 2,93 %V; đường sót: 5,33 – 6,33 °Bx
Chất lượng cảm quan thành phẩm Đánh giá theo TCVN 3215–79 Đạt điểm cảm quan 16,24 – 16,40 / 20 điểm (màu vàng đẹp, vị ngọt dịu chua thanh, thơm hương xoài)

Đóng góp thực tiễn của đề tài:

  • Chứng minh tính khả thi của việc sử dụng nguyên liệu xoài cát Nam Bộ (Đồng Nai) trong chế biến đồ uống lên men nồng độ cồn thấp (2,5 – 3%V), góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm chế biến từ cây ăn quả nhiệt đới.
  • Xác định chính xác các ngưỡng thông số công nghệ (tỷ lệ enzyme trích ly, nồng độ đường phối chế, pH, tỷ lệ men giống) giúp nâng cao hiệu suất thu hồi dịch ép (tăng từ 75% lên 95,83%) và kiểm soát ổn định chất lượng cảm quan của sản phẩm nước xoài lên men.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Toàn bộ các mẻ thí nghiệm khảo sát điều kiện lên men mới được thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm với thể tích nhỏ ($150 \text{ ml}$ dịch lên men/bình tam giác), chưa phản ánh đầy đủ các hiện tượng truyền khối, truyền nhiệt và biến thiên cơ học xảy ra ở quy mô pilot hoặc quy mô sản xuất công nghiệp.
  • Phạm vi nghiên cứu nguyên liệu mới tập trung trên giống xoài cát xuất xứ từ Đồng Nai, chưa so sánh đối chứng mở rộng trên các giống xoài khác (như xoài cát Hòa Lộc, xoài cát Chu, xoài Bưởi) để đánh giá sự biến động thành phần hóa lý đối với quy trình công nghệ.

Hướng nghiên cứu tiếp được đề xuất:

  • Mở rộng khảo sát nâng quy mô lên men ở mức pilot (dung tích 5 – 20 lít) để hoàn thiện các thông số vận hành thiết bị lên men bán công nghiệp.
  • Nghiên cứu động thái biến đổi các hợp chất dinh dưỡng vi lượng (đặc biệt là hàm lượng Vitamin C và hoạt chất mangiferin) trong suốt quá trình lên men và bảo quản.
  • Khảo sát các chế độ thanh trùng nhiệt hoặc lọc màng vô trùng, kết hợp nghiên cứu các loại bao bì đóng chai và điều kiện tàng trữ nhằm xác định chính xác hạn sử dụng của sản phẩm nước xoài lên men.

Giá trị tham khảo

Tài liệu đồ án tốt nghiệp này mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Sinh học: Là tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp bố trí thí nghiệm công nghệ lên men đồ uống truyền thống và hiện đại, kỹ thuật nuôi cấy nhân giống nấm men 2 cấp, quy trình đo đạc các chỉ tiêu hóa sinh thực phẩm (Brix, pH, axit tổng số bằng chuẩn độ thể tích, độ cồn bằng chưng cất khúc xạ, độ nhớt bằng nhớt kế Ostwald) và phương pháp đánh giá cảm quan theo TCVN 3215–79.
  • Kỹ sư nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) tại các doanh nghiệp chế biến đồ uống: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm định lượng về liều lượng enzyme pectinase xử lý thịt quả xoài, các thông số kiểm soát nồng độ chất khô hòa tan, pH và tỷ lệ nấm men để chủ động khống chế độ cồn ở mức 2,5 – 3%V cho dòng sản phẩm nước quả lên men giải khát.
  • Người làm đề tài nghiên cứu về chế biến nông sản sau thu hoạch: Cung cấp nguồn số liệu tổng quan về thành phần dinh dưỡng, tính chất hóa lý của xoài tươi và cơ sở dữ liệu về động thái sinh trưởng của chủng Saccharomyces cerevisiae.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao cần phải bổ sung enzyme pectinase vào dịch xoài trước khi lên men và tỷ lệ tối ưu là bao nhiêu?

Dịch xoài sau khi xay nhuyễn có độ nhớt động học tương đối cao (trung bình 1,36 cts/s) và chứa hàm lượng pectin lớn khiến dịch ép bị đặc quánh, khó lọc và hiệu suất thu hồi dịch thấp (chỉ đạt 75% ở mẫu đối chứng). Enzyme pectinase khi ủ ở 40°C trong 3 giờ sẽ xúc tác thủy phân các liên kết glucoside và liên kết este của phân tử pectin tạo thành các mạch ngắn hơn, làm giảm độ nhớt và phá vỡ cấu trúc gel giữ nước của thịt quả. Thực nghiệm chứng minh tỷ lệ bổ sung tối ưu là 3 ml enzyme pectinase trên 100g thịt quả xoài, giúp hiệu suất trích ly dịch ép tăng lên 95,83%, dịch lọc có màu vàng tươi sáng, trong suốt và lượng cặn lắng ở mức tối thiểu.

2. Quá trình nhân giống nấm men Saccharomyces cerevisiae được thực hiện theo quy trình nào và thời điểm thu giống tối ưu là khi nào?

Nấm men được nhân giống theo quy trình 2 cấp:

  • Cấp 1: Cấy sinh khối nấm men từ ống thạch nghiêng vào 150 ml môi trường Sabouraud lỏng, nuôi cấy trên máy lắc ngang tốc độ 120 vòng/phút trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng.
  • Cấp 2: Hút 3 ml dịch cấp 1 (tỷ lệ 2%) chuyển vào 150 ml môi trường bán dịch xoài (tỷ lệ 1:1 giữa môi trường Sabouraud và dịch xoài) và nuôi cấy trong 24 – 30 giờ để huấn luyện tế bào thích nghi với cơ chất dịch quả. Đường cong sinh trưởng cho thấy tại thời điểm 24 – 30 giờ, nấm men đang ở pha log phát triển mạnh mẽ nhất, tỷ lệ tế bào sống rất cao với mật độ đạt $4,40 \times 10^8 - 4,50 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$, là thời điểm tối ưu để bổ sung vào dịch lên men.

3. Nồng độ đường ban đầu (°Bx) ảnh hưởng như thế nào đến độ cồn và chất lượng sản phẩm?

Nồng độ đường ban đầu quyết định trực tiếp đến cơ chất cung cấp cho nấm men chuyển hóa thành ethanol. Khi khảo sát các mức 16, 18, 20, 22 °Bx:

  • Ở mức 16 và 18 °Bx, lượng đường cung cấp không đủ khiến độ cồn tạo thành thấp (1,16%V và 2,16%V), sản phẩm có vị chua nổi trội, điểm cảm quan chỉ đạt 8,72 và 11,60 điểm.
  • Ở mức 22 °Bx, nồng độ cồn tăng cao (4,67%V) vượt mức đồ uống lên men nhẹ, điểm cảm quan đạt 12,88 điểm.
  • Ở mức 20 °Bx, quá trình lên men đạt độ cân bằng áp suất thẩm thấu tối ưu, tạo ra độ cồn 2,93%V và lượng đường sót 6,33 °Bx, mang lại vị hài hòa giữa chua ngọt và hậu vị cồn êm dịu, đạt điểm cảm quan cao nhất là 16,24 điểm.

4. Vì sao giá trị pH = 4,0 được lựa chọn là thông số tối ưu cho dịch lên men thay vì pH 3,6 hay 4,2?

Thực nghiệm cho thấy:

  • Tại pH = 3,6 (gần với pH tự nhiên của dịch xoài là 3,61), môi trường axit ức chế hoạt tính enzyme của nấm men, dẫn đến tốc độ lên men chậm, độ cồn thấp (1,50%V), lượng đường dư nhiều (7,33 °Bx) và vị chua gắt khó uống (điểm cảm quan chỉ đạt 6,48 điểm).
  • Tại pH = 4,2, độ cồn đạt 4,33%V nhưng giá trị pH này tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn tạp nhiễm (đặc biệt là vi khuẩn lactic) phát triển cạnh tranh, làm phát sinh mùi lạ và giảm điểm cảm quan xuống 12,04 điểm.
  • Tại pH = 4,0, nấm men Saccharomyces cerevisiae sinh trưởng và chuyển hóa đường thuận lợi, tạo độ cồn 2,83%V, đường sót 5,33 °Bx, ức chế tốt vi khuẩn tạp nhiễm và cho điểm cảm quan cao nhất (14,40 điểm).

5. Tỷ lệ nấm men giống bổ sung ảnh hưởng ra sao đến chất lượng nước xoài lên men?

Khi khảo sát các tỷ lệ nấm men giống 1,0%, 1,5%, 2,0% và 2,5% (mật độ $4,5 \times 10^8 \text{ tế bào/ml}$):

  • Tỷ lệ 1,0% và 1,5% bổ sung lượng tế bào chưa đủ, tốc độ lên men diễn ra chậm, độ cồn sau 72 giờ chỉ đạt 1,00%V và 2,17%V, điểm cảm quan thấp (7,28 và 10,08 điểm).
  • Tỷ lệ 2,5% cung cấp sinh khối quá lớn khiến môi trường nhanh cạn kiệt dinh dưỡng, tế bào nấm men chết sớm và xảy ra hiện tượng tự phân, gây mùi lạ cho sản phẩm, điểm cảm quan giảm xuống 12,32 điểm.
  • Tỷ lệ 2,0% (tương đương $13,5 \times 10^8 \text{ tế bào/150 ml}$ dịch lên men) cung cấp lượng tế bào cân đối với nguồn cơ chất, đạt độ cồn 2,50%V, đường sót 6,00 °Bx và tổng điểm cảm quan cao nhất đạt 16,40 điểm.

Kết luận

Đồ án tốt nghiệp của sinh viên Đậu Thị Như đã nghiên cứu và hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất nước uống lên men nồng độ cồn thấp từ trái xoài cát (Mangifera Indica) sử dụng nấm men Saccharomyces cerevisiae. Các điều kiện công nghệ tối ưu được xác lập bao gồm: xử lý dịch quả bằng enzyme pectinase với tỷ lệ 3 ml/100g thịt quả ở 40°C trong 3 giờ (hiệu suất ép lọc đạt 95,83%), hiệu chỉnh nồng độ đường dịch lên men đạt 20 °Bx, pH đạt 4,0, bổ sung 2,0% men giống nhân 2 cấp và lên men kỵ khí ở nhiệt độ phòng trong thời gian 72 giờ. Sản phẩm sau lên men đạt độ cồn đặc trưng 2,5 – 2,93%V, hàm lượng đường sót 5,33 – 6,33 °Bx, có màu vàng sáng trong và hương vị hài hòa, mở ra giải pháp công nghệ khả thi trong việc nâng cao giá trị chế biến sau thu hoạch cho nguồn nông sản xoài tại Việt Nam.