Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công nghệ thực phẩm của tác giả Nguyễn Thị Thùy Duyên (Khoa Công nghệ Sinh học - Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2014) tập trung giải quyết bài toán công nghệ chế biến sâu nguồn nấm ăn thành sản phẩm thực phẩm chay mô phỏng giò truyền thống.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ các cơ sở thực tiễn được tác giả nêu rõ:

  • Nấm ăn (nấm rơm, nấm bào ngư, nấm mỡ, mộc nhĩ, nấm hương...) là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, chứa nhiều protein và các axit amin không thay thế, không làm tăng cholesterol máu và không gây xơ cứng động mạch, được ví như "rau sạch" và "thịt sạch".
  • Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam rất thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng nấm với nguồn cơ chất rẻ tiền, dễ kiếm; kỹ thuật nuôi trồng và chế biến cơ bản không phức tạp. Tuy nhiên, nghề nấm mang tính mùa vụ cao, thời gian thu hoạch ngắn, công nghệ thu hái, bảo quản và vận chuyển thô sơ dẫn đến tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch lớn.
  • Sản lượng nấm phân bố theo vùng miền: nấm rơm trồng tập trung tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ...) chiếm 90% sản lượng cả nước; mộc nhĩ trồng chủ yếu tại miền Đông Nam Bộ chiếm 50% sản lượng toàn quốc; nấm mỡ, nấm bào ngư và nấm hương được sản xuất nhiều ở miền Bắc (Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Nội...) đạt sản lượng khoảng 30.000 tấn/năm; các loại nấm dược liệu (Vân Chi, Linh Chi, Đầu Khỉ...) đạt khoảng 150 tấn/năm.
  • Nhu cầu ăn chay trên thế giới và tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, chuyển dịch từ tín ngưỡng tâm linh sang lối sống ẩm thực vì sức khỏe và bảo vệ môi trường. Các sản phẩm giò chả chay sẵn có trên thị trường thời điểm nghiên cứu chủ yếu sản xuất từ gluten (đạm lúa mì), tinh bột mì và dầu thực vật; việc nghiên cứu quy trình chế biến giò chay từ nấm ăn giúp đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị thương phẩm cho nấm và tăng khả năng cạnh tranh.

Mục tiêu, mục đích và nhiệm vụ của đề tài được xác định cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng quy trình công nghệ chế biến giò chay từ nấm.
  • Mục đích nghiên cứu: Xây dựng quy trình công nghệ chế biến sản phẩm thực phẩm chay từ nấm, tạo ra sản phẩm giò chay đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Lựa chọn được nguyên liệu phù hợp cho quá trình sản xuất giò chay.
    2. Xác định thời gian ngâm nấm phù hợp cho mỗi loại nguyên liệu (nấm hương, mộc nhĩ).
    3. Xác định được tỷ lệ gia vị phù hợp cho quá trình sản xuất giò chay (dầu ăn, bột canh, mì chính, hạt tiêu).
    4. Lựa chọn chất tạo cấu trúc phù hợp cho sản phẩm giò chay (khảo sát agar, carrageenan, gelatin).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nấm bào ngư tươi (phần cuống và mũ nấm), nấm hương khô, mộc nhĩ khô; các chất tạo cấu trúc (agar, carrageenan, gelatin); các loại gia vị (bột canh, mì chính, hạt tiêu, dầu ăn); bao bì ghép màng PA/PE.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại Trung tâm Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm (địa chỉ: A4, Đền Lừ 2, Hoàng Mai, Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ ngày 07/12/2013 đến ngày 30/05/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân loại học, hóa sinh thực phẩm của các chủng nấm ăn và hóa lý chất tạo gel keo thực phẩm:

  • Nguyên liệu nấm hương (Lentinula edodes): Thuộc họ Tricholomataceae, bộ Agaricales. Trong 100g nấm hương khô chứa 13g nước, 19g protein, 1,8g lipid, 54g carbohydrate, 7,8g chất xơ, 4,9g khoáng. Protein nấm hương chứa 9 axit amin không thay thế; hàm lượng axit glutamic chiếm tỷ lệ cao nhất (27,2% protein), kế đến là axit asparaginic (7,9%), leucine (7,0%) và alanine (6,1%). Về chất khoáng, $K_2O$ chiếm 63,92% và $P_2O_5$ chiếm 20,05% tổng khoáng. Nấm hương chứa polysaccharide kháng u lentinan, hợp chất mannose peptide KS-Z (từ chủng KSle 007) và tiền vitamin D chuyển hóa thành vitamin D dưới tác dụng của tia tử ngoại.
  • Nguyên liệu nấm bào ngư (Pleurotus spp.): Chi Pleurotus, quả thể dạng phễu lệch. Protein thô chiếm khoảng 20% chất khô, đầy đủ 8 axit amin không thay thế (leucine, valine, alanine, phenylalanine...). Nấm chứa các chất chiết nước nóng có khả năng tiêu giảm tế bào khối u thực nghiệm trên chuột bạch, giảm cholesterol huyết thanh (ăn 2,5g/kg giảm từ 253,13 mg xuống 193,12 mg; ăn 5g/kg giảm xuống 128,57 mg sau 40 ngày) và ức chế các vi khuẩn kiểm nghiệm (Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis).
  • Nguyên liệu mộc nhĩ đen (Auricularia auricula-judae): Trong 100g nấm mèo khô chứa 10,9g nước, 10,6g protein, 0,2g lipid, 65,5g carbohydrate, 70g cellulose, 357mg canxi, 185mg sắt, cung cấp 306 kcal năng lượng.
  • Chất tạo gel và cấu trúc:
    • Agar: Tách từ rong đỏ Rhodophyceae (Gelidium sp., Gracilaria sp.), gồm phần agarose trung tính tạo gel (50–90%) và agaropectin tích điện âm tạo độ nhầy. Gel agar có tính thuận nghịch nhiệt, tạo mạng lưới không gian ba chiều giữ nước khi dung dịch hạ nhiệt xuống 40–50°C và nóng chảy ở 85–90°C.
    • Carrageenan: Galactan sulfat chiết từ rong sụn đỏ (Chondrus crispus, Gigartina spp.), tạo gel ở nhiệt độ 40–60°C khi có mặt các cation ($K^+$, $Ca^{2+}$).
    • Gelatin: Sản phẩm thủy phân một phần collagen động vật, có chuỗi polypeptide lặp lại Gly-X-Y, tạo gel dẻo nhưng nhiệt độ nóng chảy thấp (27–34°C).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được tác giả áp dụng:

  • Phương pháp hóa học và hóa lý:
    • Xác định độ ẩm nguyên liệu bằng phương pháp sấy đến khối lượng không đổi ở 105°C theo tiêu chuẩn TCVN 5613-91.
    • Xác định hàm lượng protein tổng số theo phương pháp Kjeldahl: vô cơ hóa mẫu bằng dung dịch $H_2SO_4$ đặc có xúc tác ở nhiệt độ cao, chuyển hóa nitơ thành $(NH_4)_2SO_4$; cất amoniac bằng thiết bị cất đạm với dung dịch NaOH vào bình hứng chứa $H_2SO_4$ dư; chuẩn độ lượng axit dư bằng dung dịch NaOH tiêu chuẩn.
    • Xác định lipid tổng số bằng phương pháp trích ly Soxhlet: sấy mẫu khô, nghiền nhỏ, chiết liên tục bằng dung môi ete trong trụ chiết từ 8 đến 10 giờ cho đến khi kiệt chất béo (kiểm tra giọt dung môi không để lại vết dầu trên giấy lọc).
    • Xác định đường tổng số theo phương pháp Bertrand: chiết đường bằng nước nóng ở 80°C, kết tủa tạp protein bằng chì axetat 10%, loại chì dư bằng kali oxalat bão hòa; thủy phân dịch đường bằng HCl 1/3 ở nhiệt độ sôi cách thủy trong 15 phút, trung hòa bằng NaOH 30%; cho dịch đường phản ứng với hỗn hợp dung dịch Fehling A và Fehling B đun sôi 3 phút; lọc tách kết tủa $Cu_2O$, hòa tan kết tủa bằng dung dịch $Fe_2(SO_4)_3$ 5% và chuẩn độ $Fe^{2+}$ tạo thành bằng dung dịch $KMnO_4$ 0,1N đến màu hồng sẫm bền vững trong 1 phút.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp bố trí thí nghiệm đơn yếu tố lần lượt để xác định thông số tối ưu: thời gian ngâm nấm hương khô (45–120 phút), thời gian chần nấm bào ngư tươi (3–9 phút ở 80°C), thời gian ngâm mộc nhĩ khô (30–105 phút), tỷ lệ phối trộn giữa 3 loại nấm, tỷ lệ bổ sung các loại gia vị (dầu ăn, bột canh, mì chính, hạt tiêu), lựa chọn loại chất tạo gel (carrageenan 6%, agar 5%, gelatin 5%) và tỷ lệ dịch tạo gel bổ sung (40%, 50%, 60%).
  • Phương pháp đánh giá cảm quan: Đánh giá thị hiếu theo phép thử cho điểm Hedonic thang điểm 9 bậc (từ 1: "Cực kỳ chê" đến 9: "Cực kỳ thích"). Hội đồng cảm quan gồm 11 thành viên thực hiện đánh giá độc lập về các chỉ tiêu: trạng thái, cấu trúc, màu sắc, mùi và vị của mẫu thử.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0, kiểm định phương sai ANOVA ở mức ý nghĩa $p = 0,05$ (5%).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tổng thể tính cấp thiết của đề tài, các căn cứ khoa học và thực tiễn liên quan đến nguồn nguyên liệu nấm tại Việt Nam và xu thế ăn chay. Xác lập mục tiêu, mục đích, 4 yêu cầu nghiên cứu cụ thể, chỉ rõ ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung luận cứ mở rộng chế biến nấm và ý nghĩa thực tiễn tạo ra sản phẩm giò chay an toàn, bổ dưỡng phục vụ người tiêu dùng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật chi tiết đặc điểm hình thái học, chu trình sống từ bào tử đảm đến quả thể trưởng thành, thành phần hóa sinh và giá trị dược liệu của ba loại nấm: nấm hương (Lentinula edodes), nấm bào ngư (Pleurotus spp.), và nấm mèo (Auricularia auricula-judae). Tổng kết tình hình nghiên cứu nuôi trồng và ứng dụng nấm trong nước và trên thế giới (sản xuất sinh khối sợi nấm, tách chiết hoạt chất chống ung thư, sản xuất rượu vang nấm mèo, bánh phồng nấm bào ngư). Tiếp đó, tác giả tổng quan về văn hóa ăn chay, các lợi ích sức khỏe đã được chứng minh y học (giảm huyết áp, giảm 25% nguy cơ đái tháo đường, hạ cholesterol máu, ngừa ung thư đại tràng, giảm thoái hóa xương khớp). Phần cuối phân tích bản chất hóa học, cơ chế tạo mạng gel, độ bền gel và ứng dụng thực phẩm của ba chất kết dính: agar (polysaccharide rong đỏ), carrageenan (galactan sulfat) và gelatin (protein biến tính từ collagen).

Phần 3: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả xuất xứ nguyên vật liệu (mua tại Hà Nội), các hóa chất thí nghiệm (agar và carrageenan xuất xứ Việt Nam, gelatin xuất xứ Trung Quốc), thiết bị máy móc sử dụng (máy xé, máy xay, máy đùn, máy ly tâm, bao bì PA/PE). Chi tiết hóa 4 quy trình phân tích hóa lý (độ ẩm 105°C, protein Kjeldahl, lipid Soxhlet, đường tổng số Bertrand). Thiết lập bảng bố trí thí nghiệm cho 8 chuỗi thí nghiệm từ khâu sơ chế đến hoàn thiện sản phẩm. Trình bày phương pháp cảm quan Hedonic 9 điểm với hội đồng 11 chuyên viên và quy trình xử lý phương sai SPSS 16. Thiết lập sơ đồ khối quy trình công nghệ sản xuất giò chay dự kiến cùng phần thuyết minh chi tiết từng công đoạn chế biến: từ xử lý cơ học (xé nấm bào ngư cánh rộng 2,4 cm, dài 3,2 cm; xé nấm hương rộng 5 mm, dài 1 cm; thái mộc nhĩ rộng 0,8 cm, dài 3 cm), xào gia vị (100°C trong 5 phút), phối trộn dịch kết dính, định hình bao bì PA/PE, thanh trùng (100°C trong 30 phút), làm nguội và hút chân không bảo quản ở 4°C.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương thực nghiệm cung cấp các dữ liệu khảo sát và thảo luận sâu về tính tối ưu của từng thông số công nghệ:

  • Khảo sát độ ẩm ban đầu của 3 loại nấm nguyên liệu để định mức chế biến.
  • Khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm đối với độ trương nở của nấm hương qua 6 mức thời gian.
  • Đánh giá cảm quan trạng thái và mùi vị của nấm bào ngư tươi sau khi chần ở 80°C qua 4 mức thời gian.
  • Khảo sát ảnh hưởng của thời gian ngâm đến sự trương nở của mộc nhĩ qua 6 mức thời gian.
  • Khảo sát tỷ lệ phối trộn nấm bào ngư, mộc nhĩ, nấm hương theo 3 công thức thử nghiệm (CT17, CT18, CT19).
  • Thử nghiệm xác định liều lượng tối ưu của 4 thành phần gia vị xào (dầu ăn 30–60 g/kg, bột canh 3–6 g/kg, mì chính 3–6 g/kg, hạt tiêu 0,5–2 g/kg).
  • Thử nghiệm lựa chọn bản chất chất tạo gel (so sánh carrageenan 6%, agar 5%, gelatin 5%) và tỷ lệ bổ sung dịch agar thích hợp (40%, 50%, 60%).
  • Phân tích đánh giá chất lượng sản phẩm cuối cùng về hàm lượng dinh dưỡng và chỉ tiêu an toàn vi sinh vật; hoàn thiện sơ đồ quy trình công nghệ đề xuất.

Kết quả và đóng góp

1. Số liệu thực nghiệm chính trích xuất từ văn bản

Chỉ tiêu phân tích / Thông số khảo sát Nghiệm thức / Mẫu khảo sát Kết quả đo đạc Đánh giá & Khác biệt thống kê
Độ ẩm nguyên liệu ban đầu (theo TCVN 5613-91) Nấm hương khô
Mộc nhĩ khô
Nấm bào ngư tươi
15,70%
13,04%
88,17%
Nấm hương và mộc nhĩ có độ ẩm thấp, dễ bảo quản; nấm bào ngư tươi có ẩm độ rất cao, cần xử lý chế biến ngay
Thời gian ngâm nấm hương (Mẫu ban đầu 5,00g; ngâm ở nhiệt độ thường) CT1 (45 phút)
CT2 (60 phút)
CT3 (75 phút)
CT4 (90 phút)
CT5 (105 phút)
CT6 (120 phút)
20,54g (tăng 4,11 lần)
23,33g (tăng 4,67 lần)
24,25g (tăng 4,85 lần)
24,68g (tăng 4,94 lần)
24,95g (tăng 4,99 lần)
24,87g (tăng 4,97 lần)
Khối lượng tăng có ý nghĩa thống kê từ CT1 đến CT5 ($p < 0,05$); CT5 và CT6 không khác biệt ở mức 5%, tại CT6 khối lượng có xu hướng giảm nhẹ. Chọn thời gian ngâm 105 phút
Thời gian chần nấm bào ngư tươi (Nhiệt độ chần 80°C; 1 lít nước/1 kg nấm) CT7 (3 phút)
CT8 (5 phút)
CT9 (7 phút)
CT10 (9 phút)
- Điểm trạng thái: 6,09; Mùi: 5,55; Tổng: 11,64
- Điểm trạng thái: 7,55; Mùi: 6,90; Tổng: 14,45
- Điểm trạng thái: 5,91; Mùi: 4,90; Tổng: 10,81
- Điểm trạng thái: 4,90; Mùi: 4,00; Tổng: 8,90
CT8 đạt điểm cảm quan cao nhất: nấm mềm vừa phải, không gãy vụn, mùi tanh giảm đáng kể; CT7 nấm cứng, tanh nồng; CT9 và CT10 nấm bị nhũn, mất mùi tự nhiên. Chọn thời gian chần 5 phút
Thời gian ngâm mộc nhĩ (Mẫu ban đầu 5,00g; ngâm ở nhiệt độ thường) CT11 (30 phút)
CT12 (45 phút)
CT13 (60 phút)
CT14 (75 phút)
CT15 (90 phút)
CT16 (105 phút)
20,55g (tăng 4,11 lần)
23,31g (tăng 4,66 lần)
24,69g (tăng 4,94 lần)
25,08g (tăng 5,02 lần)
25,15g (tăng 5,03 lần)
25,14g (tăng 5,03 lần)
Khối lượng tăng có ý nghĩa từ CT11 đến CT14; từ CT14, CT15 đến CT16 không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Chọn CT14 (75 phút) để tối ưu thời gian chế biến

2. Quy trình công nghệ đề xuất

Tác giả hoàn thiện sơ đồ quy trình công nghệ chế biến giò chay từ nấm với các thông số kỹ thuật được xác lập:

  • Xử lý nấm bào ngư: Xé nhỏ thành cánh nấm kích thước chiều rộng 2,4 cm, chiều dài 3,2 cm; rửa sạch đất cát, mạt cưa; chần ở 80°C trong 5 phút để khử mùi tanh và ổn định cấu trúc.
  • Xử lý nấm hương: Ngâm trong nước sạch ở nhiệt độ thường trong 105 phút (tăng khối lượng 4,99 lần); rửa sạch tạp chất; ly tâm vắt ráo nước; xé nhỏ cánh nấm chiều rộng 5 mm, chiều dài 1 cm.
  • Xử lý mộc nhĩ: Ngâm nước ở nhiệt độ thường trong 75 phút (tăng khối lượng 5,02 lần); rửa sạch; thái sợi kích thước chiều rộng 0,8 cm, chiều dài 3 cm.
  • Xào chín sơ bộ và ngấm gia vị: Phối trộn các thành phần nấm cùng hệ gia vị (dầu ăn, bột canh, mì chính, hạt tiêu); tiến hành xào ở nhiệt độ 100°C trong 5 phút.
  • Tạo cấu trúc và bao gói: Phối trộn hỗn hợp nấm đã xào với dịch chất tạo gel agar; định hình trong màng bao bì PA/PE chuyên dụng, dùng máy ghim cố định kín hai đầu để chống nước thâm nhập.
  • Thanh trùng và hoàn thiện: Thanh trùng toàn khối giò ở nhiệt độ 100°C trong 30 phút; làm nguội tự nhiên để mạng gel agar cố định khối giò; hút chân không trong túi PA/PE và đưa vào bảo quản lạnh ở 4°C.

3. Đóng góp của tác giả

Khóa luận đã bổ sung cơ sở khoa học thực nghiệm về đặc tính trương nở của nấm khô (nấm hương, mộc nhĩ) và biến đổi cảm quan của nấm bào ngư tươi qua xử lý nhiệt. Tác giả tự nêu đóng góp thực tiễn là đã xây dựng thành công một quy trình công nghệ hoàn chỉnh sản xuất giò chay từ nấm, tạo ra sản phẩm thực phẩm mới, hợp vệ sinh, không chứa chất bảo quản độc hại, cung cấp thêm giải pháp kỹ thuật cho thị trường ẩm thực chay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các giới hạn nội dung được trình bày trong văn bản:

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện hoàn toàn trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Trung tâm Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm trong thời gian ngắn (từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014); nguyên liệu nấm hương sử dụng vẫn là sản phẩm quả thể khô mua thương mại trên thị trường (nhập khẩu), chưa kiểm soát được đồng nhất xuất xứ giống nuôi trồng; chưa tiến hành khảo nghiệm thời hạn bảo quản thực tế (shelf-life) của sản phẩm trong các điều kiện nhiệt độ khác nhau ngoài mốc 4°C.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Theo dõi biến đổi chỉ tiêu hóa lý, cảm quan và động học vi sinh vật của giò chay nấm trong suốt thời gian bảo quản dài ngày ở nhiệt độ thường và nhiệt độ mát (4°C).
    • Nghiên cứu mở rộng sản xuất thử nghiệm ở quy mô pilot và quy mô bán công nghiệp, hoàn thiện tính toán định mức kinh tế - kỹ thuật.
    • Khảo nghiệm bổ sung các chủng nấm ăn tươi nuôi trồng phổ biến trong nước (như nấm rơm, nấm mỡ, nấm đùi gà) vào công thức phối trộn để hạ giá thành sản phẩm.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn rõ nét đối với:

  • Đối tượng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Công nghệ thực phẩm, Công nghệ sinh học ứng dụng, Dinh dưỡng và Khoa học ẩm thực; các kỹ thuật viên nghiên cứu phát triển sản phẩm (R&D) tại các cơ sở chế biến thực phẩm chay.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phương pháp phân tích 4 chỉ tiêu hóa sinh thực phẩm cơ bản (độ ẩm TCVN, đạm Kjeldahl, béo Soxhlet, đường khử/đường tổng Bertrand) với nguyên tắc và quy trình thao tác chi tiết.
    • Thiết kế thí nghiệm đơn yếu tố kết hợp phương pháp đánh giá cảm quan Hedonic 9 bậc và kỹ thuật phân tích phương sai ANOVA trên phần mềm SPSS 16.
    • Các thông số thực nghiệm chuẩn về thời gian ngâm trương nở nấm hương (105 phút), ngâm mộc nhĩ (75 phút) và chế độ nhiệt chần nấm bào ngư (80°C, 5 phút), có thể ứng dụng trực tiếp vào các quy trình chế biến món ăn và đồ hộp nấm khác.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nấm bào ngư tươi bắt buộc phải qua công đoạn chần ở 80°C trong 5 phút trước khi phối trộn?

Theo kết quả đánh giá cảm quan tại Bảng 4.3 của khóa luận, nấm bào ngư tươi có nhược điểm tự nhiên là mùi tanh nồng và sợi nấm dễ gãy vụn. Chần ở 80°C trong 5 phút (CT8) đạt điểm cảm quan cao nhất (14,45 điểm; trạng thái 7,55 và mùi 6,90), giúp sợi nấm mềm dẻo không gãy, khử bớt mùi tanh đặc trưng mà vẫn giữ được hương vị tự nhiên của nấm sò. Nếu chần 3 phút (CT7), nấm còn tanh và sợi nấm cứng; nếu chần quá lâu 7–9 phút (CT9, CT10), nấm bị mất hoàn toàn mùi thơm và sợi nấm bị nhũn nát do thoát nước nhiều.

2. Căn cứ vào đâu để tác giả lựa chọn thời gian ngâm nấm hương là 105 phút và mộc nhĩ là 75 phút?

Tác giả căn cứ vào sự biến đổi khối lượng trương nở của nấm sau các khoảng thời gian ngâm ở nhiệt độ thường (khối lượng mẫu ban đầu 5,00g) kết hợp xử lý thống kê mức ý nghĩa $p = 0,05$:

  • Với nấm hương (Bảng 4.2): Khối lượng tăng liên tục từ 45 phút đến 105 phút (đạt 24,95g, tăng 4,99 lần). Ở mức 120 phút, khối lượng không tăng mà giảm nhẹ về 24,87g và không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với mức 105 phút, do đó mốc 105 phút là điểm trương nở cực đại tối ưu.
  • Với mộc nhĩ (Bảng 4.4): Khối lượng tăng có ý nghĩa từ 30 phút đến 75 phút (đạt 25,08g, tăng 5,02 lần). Tại các mốc 90 phút (25,15g) và 105 phút (25,14g), số liệu không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với mốc 75 phút. Tác giả chọn 75 phút nhằm tiết kiệm thời gian chế biến mà vẫn đảm bảo độ trương nở đầy đủ.

3. Khóa luận đã khảo sát những chất tạo cấu trúc nào và vì sao dịch agar được lựa chọn?

Trong thí nghiệm số 8, tác giả đã bố trí khảo sát 3 công thức chất tạo cấu trúc gồm: carrageenan 6% trong nước (CT36), agar 5% trong nước (CT37) và gelatin 5% trong nước (CT38). Agar được lựa chọn làm phụ gia tạo gel chính vì agar có nguồn gốc thực vật (tách từ rong đỏ Rhodophyceae), phù hợp với tiêu chuẩn sản phẩm chay thuần túy, có nhiệt độ nóng chảy cao (85–90°C), bền với nhiệt chế biến 100°C, tạo mạng gel ba chiều vững chắc nhốt các mảnh nấm xào, đồng thời tạo độ dai giòn tương đồng với giò truyền thống. Ngược lại, gelatin có nguồn gốc từ động vật (collagen) và nhiệt độ nóng chảy thấp (27–34°C) nên không phù hợp cho sản phẩm giò chay.

4. Độ ẩm ban đầu của các nguyên liệu nấm khảo sát là bao nhiêu và ý nghĩa của chỉ số này?

Theo kết quả kiểm tra theo TCVN 5613-91 tại Bảng 4.1: độ ẩm của nấm hương khô là 15,70%, mộc nhĩ khô là 13,04% và nấm bào ngư tươi là 88,17%. Việc xác định độ ẩm giúp tính toán định mức khối lượng nguyên liệu đưa vào chế biến và xác định yêu cầu bảo quản. Nấm hương và mộc nhĩ khô có độ ẩm thấp nên thuận tiện bảo quản lâu dài; nấm bào ngư tươi có độ ẩm rất cao kết hợp với hàm lượng dưỡng chất lớn nên rất nhanh bị vi sinh vật xâm nhiễm và thối hỏng, bắt buộc phải sơ chế và đưa vào chần nhiệt ngay sau khi thu mua.

5. Bao bì sử dụng để bao gói giò chay trong nghiên cứu là loại gì và chế độ thanh trùng như thế nào?

Sản phẩm giò chay sử dụng loại màng bao bì ghép PA/PE (polyacrylamide/polyethylene). Loại màng này có độ bền cơ học cao, chịu được nhiệt độ thanh trùng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Khối giò sau khi định hình trong màng PA/PE và ghim kín hai đầu sẽ được thanh trùng ở nhiệt độ 100°C trong thời gian 30 phút để làm chín nấm hoàn toàn, kích hoạt quá trình tạo gel của agar và tiêu diệt vi sinh vật gây hại, sau đó được hút chân không và bảo quản ở nhiệt độ 4°C.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thùy Duyên đã hoàn thành mục tiêu xây dựng quy trình công nghệ chế biến giò chay từ ba loại nấm ăn phổ biến là nấm bào ngư, nấm hương và mộc nhĩ. Bằng phương pháp bố trí thí nghiệm thực nghiệm đơn yếu tố kết hợp đánh giá cảm quan Hedonic và kiểm định thống kê SPSS 16, công trình đã xác lập chuẩn xác các thông số kỹ thuật then chốt: ngâm nấm hương 105 phút, ngâm mộc nhĩ 75 phút, chần nấm bào ngư ở 80°C trong 5 phút, xào gia vị ở 100°C trong 5 phút, tạo gel bằng dịch agar và thanh trùng ở 100°C trong 30 phút trong bao bì PA/PE. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho lĩnh vực chế biến rau quả, thực phẩm chay và bảo quản nông sản sau thu hoạch.