CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ KHÁCH HÀNG VÀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Tổng quan về khách hàng Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp. có nhu cầu sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của mình. Theo quan điểm của Marketing: Khách hàng là toàn bộ những người sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của họ.
Theo Bách khoa toàn thư thì khách hàng là người mua hoặc có sự quan tâm, theo dõi một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua. Như vậy có rất nhiều khái niệm về khách hàng từ các góc độ nhìn nhận khác nhau nhưng nhìn chung thì khách hàng là những cá nhân hoặc nhóm người, các tổ chức có nhu cầu và có khả năng thanh toán. - Khách hàng cá nhân: Khách hàng cá nhân chỉ những người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân. - Khách hàng tổ chức: Là tổ chức mua hàng hoá và dịch vụ để sản xuất, để bán lại hay để phục vụ cho các nhu cầu hoạt động chung.
Khái niệm về quản trị quan hệ khách hàng (CRM): Thuật ngữ CRM xuất hiện từ đầu những năm 1990 trong giới học thuật và các hãng tư vấn của Mỹ với những tên tuổi như tiến sĩ Jagdish Sheth của trường kinh doanh Goizeta, Đại học Emory (Atlanta), Jim Bessen của công ty Luan van 8 Intergraph… Một cách tổng quát, CRM là hệ thống nhằm phát hiện các đối tượng tiềm năng, biến họ thành khách hàng và sau đó giữ các khách hàng này lại với công ty. Kristin và Carol (2002) cho rằng: “CRM là sự tiếp cận toàn diện để tạo lập, duy trì và mở rộng quan hệ khách hàng”. Parvatiyar và Sheth (2002) cho rằng: “CRM là chiến lược tổng thể và tiến trình theo đuổi, duy trì và phát triển những khách hàng chọn lọc, nhằm tạo giá trị cho doanh nghiệp và khách hàng” Chen và Popovich (2003) cho rằng: “CRM có nguồn gốc từ marketing quan hệ, mục đích nhằm cải thiện khả năng sinh lợi của khách hàng dài hạn bằng cách chuyển từ sự tập trung vào sản phẩm sang tập trung vào khách hàng”. Greenberg (2004) cho rằng: “CRM là tập trung nỗ lực của doanh nghiệp thông qua tất cả các bộ phận của tổ chức.
Để gia tăng dịch vụ khách hàng, CRM bao gồm sản xuất, thử nghiệp sản phẩm, lắp đặt; cũng như nguồn nhân lực, tiếp thị, bán hàng và kỹ thuật. CRM là những ứng dụng nhằm khai thác dữ liệu khách hàng, cái mà được lấy ra từ các giao tiếp với khách hàng”. Payne và Frow (2005) cho rằng: “CRM là một cách tiếp cận chiến lược đề cập việc tạo giá trị cho khách hàng qua sự phát triển mối quan hệ hợp lý với khách hàng và phân đoạn khách hàng. CRM liên kết tiềm năng của công nghệ thông tin và chiến lược marketing quan hệ để tạo ra những giá trị dài hạn có tính sinh lợi.
CRM là gia tăng cơ hội để sử dụng dữ liệu và thông tin nhằm hiểu khách hàng và cùng tạo giá trị khách hàng. CRM đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự kết hợp chức năng chéo giữa con người, những tiến trình, hoạt động và năng lực marketing để có thể thực hiện được thông qua thông tin, công nghệ và những ứng dụng”.Reinartz (2006) cho rằng: “CRM là quá trình lựa chọn những khách hàng mà một doanh nghiệp có thể phục vụ một cách sinh lời nhất và thiết lập những tương tác riêng biệt giữa doanh nghiệp với từng khách hàng”. Tạp chí Nhà kinh tế (The Economits) cho rằng: “CRM là một nguyên tắc tổ chức bao gồm sự xác định, thu hút và sử dụng các khách hàng đáng giá nhất nhằm duy trì sự tăng trưởng lợi nhuận”.com, một tổ chức chuyên thực hiện các hoạt động tư vấn về CRM cho rằng: “CRM là một chiến lược kinh doanh nhằm chọn lọc và quản lý các mối quan hệ đáng giá nhất. CRM đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện một văn hoá, một triết lý kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm để hỗ trợ có hiệu quả cho các quá trình marketing, bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Những ứng dụng CRM có thể đảm bảo cho việc quản lý quan hệ khách hàng hiệu quả, miễn là doanh nghiệp có sự lãnh đạo sáng suốt, có chiến lược đúng đắn và văn hoá doanh nghiệp phù hợp”. Qua các quan điểm của các học giả về CRM, ta thấy rằng mỗi doanh nghiệp sẽ có lợi ích từ việc vận dụng định nghĩa về CRM trong triết lý chiến lược kinh doanh và đảm bảo định nghĩa được sử dụng nhất quán trong tổ chức. Với quan điểm tiếp cận này, tác giả lấy định nghĩa của Parvatiyar và Sheth (2002) làm cơ sở cho luận văn của mình: “CRM là chiến lược tổng thể và tiến trình theo đuổi, duy trì và phát triển những khách hàng chọn lọc, nhằm tạo giá trị cho doanh nghiệp và kháchh hàng” 1. Nội dung và lợi ích của quản trị quan hệ khách hàng a.
Nội dung của quản trị quan hệ khách hàng Nhận dạng khách hàng (Identification): cần phải xác định khách hàng của mình là ai thông qua các giao dịch đã thực hiện với khách hàng như họ tên, địa chỉ, số điện thoại, mã số thẻ, doanh số tích luỹ…; thu thập thông tin liên quan đến các đặc điểm nhận dạng khách hàng; Liên kết các đặc điểm Luan van 10 nhận dạng khách hàng với tất cả các tương tác với khách hàng đã thực hiện tại các điểm tiếp xúc; Tích hợp tất cả các đặc điểm nhận dạng vào hệ thống thông tin mà doanh nghiệp sử dụng để vận hành hoạt động của mình; Nhận ra khách hàng tại mọi điểm tiếp xúc. Phân biệt khách hàng (Differentiation): Dựa vào dữ liệu lưu trữ trong quá khứ, doanh nghiệp xác định số lượng và phân chia khách hàng ra thành nhiều nhóm theo giá trị và nhu cầu. Căn cứ vào sự khác biệt này, doanh nghiệp có những chính sách phù hợp với từng đối tượng. Theo các chuyên gia nghiên cứu động lực thúc đẩy khách hàng (Mỹ) thì 80% lợi nhuận của doanh nghiệp do 20% số khách hàng mang lại.
Như vậy, chỉ có một nhóm nhỏ khách hàng mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó mục tiêu của các doanh nghiệp là giữ nhóm khách hàng này càng lâu càng tốt. Trong quá trình thu thập thông tin khách hàng, doanh nghiệp cần phân loại khách hàng dựa vào giá trị thực sự và giá trị suốt đời trong tương lai của khách hàng. Tương tác với khách hàng (Interaction): tương tác là sự hợp tác giữa doanh nghiệp và khách hàng cùng tạo dựng một giao dịch có lợi cho cả hai bên và cho những giao dịch kế tiếp.
Những công cụ tương tác khác nhau có thể tạo ra những lợi thế khác nhau trong khả năng thu thập thông tin. Có nhiều công cụ tương tác như: web, email, điện thoại, tiếp xúc trực tiếp… Trong đó tương tác qua web thường hiệu quả, chi phí thấp và định hướng khách hàng. Cá biệt hoá khách hàng (Customization): là phục vụ khách hàng theo nhu cầu riêng biệt dựa trên những sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. - Thông qua quá trình phục vụ theo yêu cầu riêng của từng khách hàng, doanh nghiệp có thể thoã mãn nhu cầu khách hàng như đảm bảo lợi ích của khách hàng, đảm bảo uy tín và độ tin cậy, tạo các điểm bán hàng khác nhau, phối hợp các dịch vụ bổ trợ và tạo dựng nhãn hiệu vì người tiêu dùng.
Luan van 11 - Theo Philip Korler: chi phí duy trì khách hàng cũ nhỏ hơn nhiều so với chi phí phát triển một khách hàng mới và càng nhỏ hơn chi phí khôi phục lại khách hàng cũ đã bỏ đi sau khi không được thoã mãn nhu cầu. Vì vậy gia tăng lòng trung thành của khách hàng, tạo mối quan hệ gắn bó, chia sẻ với họ, phát triển họ thành các khách hàng trung thành là ưu tiên hàng đầu. Bốn yếu tố trên chính là nguyên tắc áp dụng triết lý Marketing 1:1 trong hoạt động CRM. Doanh nghiệp dựa vào các yếu tố trên để định ra một khung hoạt động chung giúp nhân viên linh động hơn khi giải quyết công việc.
Mặt khác, khi doanh nghiệp áp dụng các nguyên tắc này có thể phân bổ các nỗ lực phù hợp với từng nhóm khách hàng. Nhận dạng khách hàng (Identification) CRM Phân tích Phân biệt khách hàng (Differentiation) CRM Cộng tác Tương tác với khách hàng (Interaction) CRM Tác nghiệp Cá biệt hóa khách hàng (Customization) Hình 1. Mô hình IDIC Luan van 12 Mô hình IDIC có thể được phân thành hai hoạt động lớn là phân tích và tác nghiệp. Hai nhiệm vụ đầu không cần có sự tham gia của khách hàng, có thể gộp thành giai đoạn phân tích (CRM phân tích).
Hai nhiệm vụ sau cần có sự tham gia của khách hàng, gọi chung là giai đoạn tác nghiệp (CRM tác nghiệp). - CRM phân tích: những thông tin về khách hàng được thu thập từ các nguồn khác nhau sẽ được tập hợp, xử lý và phân tích. Thông qua quá trình tập hợp, xử lý và phân tích dữ liệu sẽ hình thành cơ sở dữ liệu về khách hàng. Cơ sở dữ liệu lưu trữ những thông tin giúp quản lý hồ sơ khách hàng, quản lý hoạt động bán hàng, marketing và các dịch vụ sau bán hàng.
- CRM tác nghiệp: đây là hoạt động cốt lõi của CRM, hỗ trợ trực tiếp cho các bộ phận marketing, sales và dịch vụ khách hàng. Trong quá trình hoạt động những bộ phận này được tự động hoá chu trình làm việc thông qua hệ thống phần mềm hỗ trợ, đồng thời sẽ được cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết về khách hàng đang tiếp xúc để có thể phục vụ một cách thích hợp và hiệu quả nhất. - CRM cộng tác: CRM cộng tác liên quan đến việc thiết lập, duy trì và phát triển những kênh giao tiếp tương tác hai chiều giữa khách hàng và doanh nghiệp. Các hoạt động này được thực hiện qua nhiều hình thức như tiếp xúc trực tiếp, điện thoại, email.
Lợi ích của quản trị quan hệ khách hàng Chi phí thấp hơn để thu hút khách hàng: chi phí để thu hút khách hàng sẽ giảm đi vì công ty có thể tiết kiệm chi phí cho hoạt động marketing, tiếp xúc, thư tín, theo đuổi, dịch vụ… Giảm chi phí bán hàng: Việc bán hàng cho các khách hàng hiện có thường thuận lợi hơn và tốn kém ít chi phí hơn. Thêm vào đó, với sự hiểu biết Luan van 13 tốt hơn về kênh và nhà phân phối, những mối quan hệ sẽ hiệu quả hơn, chi phí cho các chiến dịch marketing giảm xuống.